Hiển thị các bài đăng có nhãn Suy Ngẫm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Suy Ngẫm. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 10 tháng 6, 2010

Con đường cải tiến thương hiệu hàng Trung Quốc đi về đâu?

Bài viết hay, TQ còn vậy thì VN biết đến bao giờ mới có thương hiệu Quốc Tế nhỉ???

***

Con đường để trở thành những thương hiệu nổi tiếng thế giới của Trung Quốc đang diễn ra như thế nào? Chưa thể kết luận là thành công hay thất bại, song “đi một ngày đàng học một sàng khôn”, các công ty Trung Quốc đã học được cách để phát triển ở chính thị trường tiềm năng nhất thế giới ngay trong nước mình.

Đó là nhận định của tác giả John Pomfret trên tờ Washington Post số ra ngày 25/5. Tuần Việt Nam xin giới thiệu cùng độc giả.

Năm 2009, Trung Quốc vượt Đức trở thành nhà xuất khẩu lớn nhất thế giới, và năm nay, họ có thể vượt Nhật Bản trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Nhưng khi Trung Quốc đang có trọng lượng quốc tế ngày càng nặng hơn, việc thiếu các thương hiệu mang tính toàn cầu đang đe dọa ước mơ trở thành siêu cường của họ.

Không có các nhãn mác lớn có nghĩa là Trung Quốc vẫn bị giới hạn ở việc chỉ là "phân xưởng của thế giới" trong khi để cho các nhà thiết kế và kỹ sư nước ngoài hưởng lợi. Chẳng hạn, rất nhiều máy điện thoại iPhone của hãng Apple được làm ở Trung Quốc. Nhưng nếu một phiên bản hạng sang có giá 750 USD, thì Trung Quốc chỉ được nhận 25 USD.

Tổng thư ký Hiệp hội Kế hoạch và phát triển công nghiệp ngoại quốc (CIODPA) của Trung Quốc, ông Fan Chunyong, tâm sự: "Chúng tôi đã mất rất nhiều tiền cho người nước ngoài vì họ có thương hiệu. Quần áo của chúng tôi là của Italy, Pháp, Đức, vì vậy mọi lời lãi đều rời khỏi Trung Quốc... Chúng tôi cần tạo ra các nhãn mác và phải làm việc này thật nhanh".


Không có các nhãn mác lớn có nghĩa là Trung Quốc vẫn bị giới hạn ở việc chỉ là "phân xưởng của thế giới" trong khi để cho các nhà thiết kế và kỹ sư nước ngoài hưởng lợi.
Vấn đề trên càng nghiêm trọng hơn khi Trung Quốc không thành công trong việc cải tiến mà chỉ sản xuất hàng theo các mẫu mà người khác nghĩ ra, sáng tạo ra và thiết kế. Không đổi mới nghĩa là Trung Quốc còn phải trả những khoản tiền lớn để mua bằng sáng chế của nước ngoài.

Nỗ lực cải tiến thương hiệu

Trước thực tế này, Chính phủ Trung Quốc đã tung ra chương trình trị giá hàng tỷ USD để tạo thương hiệu, khuyến khích cải tiến và bảo vệ thị trường của mình khỏi sự chế ngự của nước ngoài.

Thông qua giảm thuế và các biện pháp hỗ trợ trong khuôn khổ một "chiến lược du ngoại", Bắc Kinh đã hỗ trợ các doanh nghiệp mua hẳn công ty nước ngoài, tranh giành các nguồn tài nguyên thiên nhiên hoặc mở rộng các chân rết của mình ở nước ngoài. Trong nước, họ phát động chương trình "cải tiến bản địa" nhằm khuyến khích các công ty nội địa sản xuất hàng hóa công nghệ cao bằng việc ép các công ty nước ngoài chuyển giao các bí mật thương mại và bằng sáng chế của họ nếu muốn bán sản phẩm vào thị trường Trung Quốc.

Từ năm 2007, hàng nghìn doanh nhân Trung Quốc đã tham dự các cuộc hội thảo do chính phủ tài trợ về "chiến lược du ngoại", để học mọi thứ từ việc làm thế nào chế ngự được người Mỹ và người Anh trong các buổi hội thảo đông người, đến việc tại sao một ông chủ Trung Quốc nên nghĩ kỹ trước khi trừng phạt công khai các nhân viên nước ngoài khó bảo - như anh ta đã làm với các nhân viên người Trung Quốc của mình.

Trong khi đó, Trung Quốc cũng nỗ lực thay đổi thương hiệu của mình. Cuối năm 2009, khi những ký ức về vụ sữa và thịt gia cầm nhiễm độc của Trung Quốc vẫn còn mới mẻ, Bộ Thương mại nước này đã ký hợp đồng quảng cáo trị giá 300.000 USD với hãng quảng cáo khổng lồ thế giới DDB để giới thiệu một serie sản phẩm công nghệ cao, từ giày thể thao đến iPod. Và thế là khi nói đến 'Made in China' có nghĩa là hàng được làm từ Trung Quốc cùng với thế giới.

Vài tháng gần đây, truyền thông phương Tây đã rộ lên những câu chuyện về "chiến lược du ngoại" của Trung Quốc và chuyện các công ty Trung Quốc mua sạch toàn cầu - Dầu! Khí đốt! Xe hơi! - và thậm chí đầu tư vào Mỹ. Năm 2000, Trung Quốc đầu tư ra nước ngoài 28 tỷ USD; năm nay con số này có thể vượt qua mức 200 tỷ.

Nhưng triển vọng không nhiều: Ngay cả khi đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của Trung Quốc đạt 200 tỷ USD, con số này vẫn quá nhỏ so với FDI của các nền kinh tế nhỏ hơn, như Singapore, Nga hay Brazil. Và Trung Quốc mới chỉ đổ khoảng 17 tỷ USD vào các nước giàu, tương đương với các tài sản ở nước ngoài của riêng công ty hạng trung "Fortune 500" của Mỹ.

34 công ty con Trung Quốc trong danh sách của Fortune 500 cơ bản chỉ hoạt động ở Trung Quốc. Các ngân hàng lớn thứ ba thế giới là của Trung Quốc, nhưng không ngân hàng nào trong số này nằm trong tốp 50 của thế giới nếu xét về độ bao phủ địa lý.

Kenneth J. DeWoskin, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Trung Quốc Deloitte, nhận định: "10 năm nữa, khó mà thấy được các công ty Trung Quốc còn sống sót đến khi đó sẽ thế nào nếu họ chỉ quanh quẩn trong lãnh thổ Trung Quốc".

Ý đồ của Trung Quốc tấn công bất cứ cái gì họ cho là sẽ thắt chặt bản quyền sáng chế nước ngoài quyền sở hữu trí tuệ cũng gặp trục trặc. Trung Quốc ước tính đã chi hơn 100 tỷ USD tiền bản quyền cho các công ty nước ngoài để sử dụng công nghệ điện thoại di động phát triển ở phương Tây. Và đến cuối những năm 1990, họ đã bắt đầu phát triển sản phẩm của mình. Nhưng sau khi đầu tư hơn 30 tỷ USD, công nghệ duy nhất của họ vẫn chỉ thu hút được chưa đến 20 triệu người sử dụng trong một thị trường hơn 500 triệu dân.

Các nhà sản xuất điện thoại di động đã tuyên bố với Chính phủ Trung Quốc rằng sẽ không sản xuất loại máy điện thoại được trang bị công nghệ mới, trừ phi nhận được tiền hỗ trợ. Và Trung Quốc đã phải vứt bỏ công nghệ của Romania và Hàn Quốc để mở rộng diện sử dụng.

"Trung Quốc vẫn đang mắc kẹt", Joerg Wuttke, cựu Chủ tịch Phòng thương mại Liên minh châu Âu tại Trung Quốc, nhận định. Theo vị thương gia từng trải 25 năm ở Trung Quốc này, Trung Quốc cũng đang phải đối mặt với những thách thức lớn phải thành lập các công ty toàn cầu hóa.

Nghiên cứu về giới doanh nghiệp nước này cho thấy họ đã dành nhiều thời gian để ngồi bàn thảo với các quan chức chính phủ - chìa khóa đem lại lợi nhuận cho họ ở Trung Quốc - hơn là với người tiêu dùng - chìa khóa của thành công trên thương trường quốc tế.

Ông Hua Dongyi, chủ một công ty khai mỏ lớn của Trung Quốc ở Australia và đang xây đường sá ở Algeria và cơ sở hạ tầng ở Sudan, tâm sự: "Giới chủ doanh nghiệp Trung Quốc cần cả dành cả một thế hệ ở bên ngoài để học cách kinh doanh của thế giới".

Điều này đặc biệt đúng với ông Hua. Hồi tháng Tư, ông đã buộc phải xin lỗi các công nhân người Australia của mình sau khi phát biểu trên truyền thông Trung Quốc rằng những công nhân này chỉ bo bo giữ tiền và thiếu lòng trung thành và ý thức trách nhiệm trong nhiều doanh nghiệp của Trung Quốc.

Bài học Lenovo

Hãng sản xuất máy vi tính Lenovo của Trung Quốc, công ty mua lại thương hiệu ThinkPad của IBM năm 2004, không phải là công ty đầu tiên được sở hữu một thương hiệu lớn của nước ngoài, song vẫn được coi là người mở đường.

Đó có thể là vì các cuộc tranh giành quyền mua các thương hiệu nước ngoài khác của Trung Quốc đã kết thúc trong thảm họa. Mong muốn trở thành nhà sản xuất TV lớn nhất thế giới của hãng điện tử TCL của Trung Quốc hồi năm 2003 đã tiêu tan khi công ty con ở Pháp của họ thua lỗ 250 triệu USD.

Nỗ lực của một công ty tư nhân Trung Quốc nhằm vượt mặt công ty sản xuất máy xén cỏ của Mỹ "Murray Outdoor Power Equipment" đã kết thúc trong phá sản vì nhiều lý do, một trong số đó là công ty Trung Quốc không nhận ra rằng người Mỹ có xu hướng mua máy xén cỏ chủ yếu vào mùa xuân.

Lenovo mua thương hiệu laptop thời trang công sở của IBM với giá 1,25 tỷ USD - một hành động khá dũng cảm khi biết rằng thương hiệu ThinkPad nổi tiếng của IBM đã thua lỗ 1 tỷ USD trong những năm 2000-2004, gấp đôi tổng lợi nhuận của Lenovo cùng thời gian này.

Dù hành động của Lenovo được nhiều nước phương Tây mô tả là một dấu hiệu cho thấy sự trỗi dậy của Trung Quốc, nhưng Lenovo đã làm vậy trong cơn tuyệt vọng. Ông Yang Yuanqing, một quan chức cấp cao của Lenovo từ khi thành lập những năm 1980 nhờ nguồn tài chính của chính phủ, phân tích: Lenovo đã đánh mất thị phần ở Trung Quốc. Công nghệ của họ ở mức trung bình. Trong khi đó, họ không tiếp cận được các thị trường nước ngoài. Bằng một cuộc "đột kích", Lenovo đã quốc tế hóa, mua một thương hiệu nổi tiếng và sở hữu một kho công nghệ. Nhưng ngay từ đầu, mọi thứ đã rất khó khăn.

Các đối thủ cạnh tranh ở Mỹ của Lenovo xúi giục chống Trung Quốc tại Quốc hội Mỹ, bóng gió rằng Lenovo có thể cài đặt spyware vào các máy tính bán cho Chính phủ Mỹ. Công ty này cũng phải đối mặt với rất nhiều thách thức về sự khác biệt văn hóa giữa các công nhân Mỹ ở trụ sở tại thành phố Raleigh với những công nhân Nhật Bản sản xuất ThinkPad và những người Trung Quốc làm Lenovo.

William Amelio, nhân vật số hai của công ty này sau khi bỏ sang một vị trí cao ở hãng máy tính Dell, nhớ lại chuyến công du Bắc Kinh đầu tiên của ông trong vai trò ông chủ của Lenovo diễn ra vào cuối năm 2005: "Tôi đã được trải thảm đỏ đón chào cùng với những bài hát của công ty. Tại Raleigh, mọi người đều đeo một cây thánh giá. Điều đó có nghĩa là 'Ai sẽ chết và đứng về phía ông, thưa ông chủ?'. Amelio kết luận, ở phương Đông, bạn có thể được tôn trọng vì vị trí của mình những sẽ bị khinh bỉ vì quyền lực ở phương Tây.

Trong khi đó, các đối thủ cạnh tranh của Lenovo đã chuyển mình. Năm 2007, hãng máy tính hùng mạnh của Đài Loan Acer đã mua nhà sản xuất máy vi tính Gateway của châu Âu, nghiễm nhiên chiếm mất của Lenovo các khách hàng châu Âu. Lenovo bị trượt xuống vị trí thứ tư thế giới, sau HP, Dell và Acer. Sau đó xảy ra khủng hoảng tài chính toàn cầu, và Lenovo bị tác động mạnh.

Lenovo đáp lại bằng việc làm theo cách mà ngày càng nhiều công ty của Trung Quốc làm: trở lại với chính mình. Yuan Yuanqing được tái bổ nhiệm làm người điều hành chính và tập trung Lenovo vào một trong những thế mạnh lớn nhất của công ty: đó là thị trường Trung Quốc. Doanh số bán hàng tăng vọt, dù không đạt thành quả nào ở nước ngoài.

Theo Bob O'Donnell, một chuyên gia lâu năm về máy vi tính của IDC, "Lenovo đã trở lại là một công ty Trung Quốc đích thị". Tuy nhiên, các chuyên gia vẫn nói rằng cuộc mạo hiểm ở nước ngoài đã cứu công ty này.

Lenovo có lẽ sẽ không được gì nhiều từ một thương hiệu nước ngoài, song việc họ kết hợp với một công ty nước ngoài đã giúp ích cho họ ở trong nước. Các máy vi tính Lenovo thường có giá gấp đôi ở Trung Quốc so với ở Mỹ. Lenovo cung cấp những chiếc ThinkPad W700 hàng đầu cho Chính phủ Trung Quốc với giá 12.500 USD, trong khi ở Mỹ, nó chỉ được bán với giá 2.500 USD.

Các quan chức Trung Quốc thúc đẩy "chiến lược du ngoại" đã xem Lenovo là hình mẫu cho những công ty Trung Quốc muốn trở thành những thương hiệu đa quốc gia được biết đến. Nhưng đối với các công y Trung Quốc, "du ngoại" có thể là bí mật để sống tốt hơn trong nước.

Năm nay, hãng xe hơi Trung Quốc Geely đã mua Volvo từ tay Ford. Các chuyên gia coi đây là cách nhằm gia tăng sức mạnh kinh tế - và là thương hiệu - của Trung Quốc ở nước ngoài. Song, người sáng lập Geely, ông Li Shufu, khẳng khái: "Volvo sẽ tìm thấy một thị trường mới ở Trung Quốc".

Thứ Năm, 27 tháng 5, 2010

Đường sắt cao tốc, liệu có “Dục tốc bất đạt” ?!!

Để có thể "nhấn nút", Đại biểu Quốc hội phải biết rõ họ sẽ "nhấn nút" cho vấn đề nào, đồng thời phải có thông tin chính xác và đầy đủ về hiệu quả của dự án đầu tư.

Trong kỳ họp lần này, các đại biểu Quốc hội sẽ phải "nhấn nút" quyết định nhiều vấn đề trọng đại của đất nước. Trong số này có dự án đường sắt cao tốc (ĐSCT) Bắc - Nam với quy mô vốn đầu tư dự kiến lên tới gần 56 tỷ USD - tức là tương đương với 60% GDP và 250% vốn ngân sách của cả nước trong năm 2009. Để có thể "nhấn nút" đúng với tinh thần trách nhiệm của người đại diện cho quyền lợi của nhân dân, ở mức độ tối thiểu, các đại biểu Quốc hội phải biết một cách rõ ràng họ sẽ "nhấn nút" cho vấn đề nào, đồng thời phải có thông tin chính xác và đầy đủ về hiệu quả của dự án đầu tư.

Thông tin có chính xác?

Để đánh giá hiệu quả của dự án, Báo cáo sử dụng tỷ lệ nội hoàn tài chính (FIRR) và tỷ lệ nội hoàn kinh tế (EIRR) là hai chỉ số phản ánh lợi ích tài chính và kinh tế của dự án. Hai chỉ số này khác nhau ở hai điểm cơ bản.

Thứ nhất, nếu như lợi ích tài chính được tính dựa trên giá vé thì lợi ích kinh tế được tính trên cơ sở lợi ích của hành khách khi có đường sắt cao tốc so với trường hợp không có đường sắt cao tốc. Lợi ích này bao gồm lợi ích thu được nhờ tiết kiệm chi phí về thời gian, tiết kiệm chi phí khai thác các phương tiện khác, giảm tai nạn giao thông, và giảm lượng phát thải khí CO2.

Thứ hai, khi tính chi phí vốn, phân tích tài chính sử dụng bình quân gia quyền của các lãi suất thực trả cho vốn huy động từ các nguồn khác nhau, trong khi phân tích kinh tế sử dụng chi phí cơ hội - là suất sinh lợi cao nhất khi dùng vốn đầu tư cho các hoạt động khác.


Bằng cách thay đổi một số giả định liên quan đến chi phí và lợi ích của dự án đầu tư, người ta có thể biến một kết quả không khả quan trở thành khả quan, ít nhất là trên giấy tờ.

Theo Báo cáo đầu tư đường sắt cao tốc Hà Nội - Hồ Chí Minh (gọi tắt là Báo cáo) thì trong tình huống cơ sở, FIRR chỉ đạt 2,4 - 3%, tức là rất thấp so với chi phí vốn. Điều này có nghĩa là nếu đưa dự án vào vận hành thì về mặt tài chính sẽ bị lỗ đáng kể. Về EIRR, kết quả đánh giá cho tình huống cơ sở như sau:

Bảng 1: Ước lượng tỷ lệ nội hoàn kinh tế - Phương án cơ sở

Chính sách giá vé

EIRR (%)

Tỷ lệ lợi ích trên chi phí (B/C)

Chính sách giá vé 1

8,9%

0,76

Chính sách giá vé 2

10,6%

0,87

Chính sách giá vé 3

9,5%

0,79

Nguồn: Bảng 10.5-5 trong Báo cáo Đầu tư Xây dựng Công trình (VJC)

Ghi chú:

§ Chính sách giá vé 1: Giai đoạn đầu 50%, thông toàn tuyến bằng 100% giá vé máy bay phổ thông

§ Chính sách giá vé 2: Bằng 50% giá vé máy bay hạng phổ thông

§ Chính sách giá vé 2: Bằng 75% giá vé máy bay hạng phổ thông

Như vậy, trong cả ba phương án giá vé, tỷ lệ nội hoàn kinh tế cao nhất cũng chỉ đạt 10,6%, thấp hơn mức yêu cầu tối thiểu (hay chi phí cơ hội của vốn) là 12%. Hệ quả là đối với cả ba phương án, lợi ích kinh tế thu được thấp hơn chi phí kinh tế phải bỏ ra (tỷ lệ B/C thấp hơn 1).

Tuy nhiên, khi tìm cách đánh giá lại để củng cố tính khả thi về mặt kinh tế của ĐSCT, Báo cáo đã thay đổi một số giả định trong mô hình tính toán, cụ thể là (i) chi phí khai thác và duy tu bảo dưỡng thấp hơn; (ii) tỷ lệ đô thị hóa cao hơn ở các tỉnh, thành phố dọc trên tuyến ĐSCT; và (iii) giá nhiên liệu của vận tải đường bộ và đường hàng không cao hơn. Với những giả định mới này, mà thực chất là ước lượng chi phí thấp đi và lợi ích cao lên, tỷ lệ nội hoàn kinh tế được Báo cáo tính toán lại như sau:

Bảng 2: Ước lượng tỷ lệ nội hoàn kinh tế - Phương án điều chỉnh

Chính sách giá vé

EIRR (%)

Tỷ lệ lợi ích trên chi phí (B/C)

Chính sách giá vé 1

14,6%

1,19

Chính sách giá vé 2

16,0%

1,36

Chính sách giá vé 3

14,3%

1,18

Nguồn: Bảng 10.5-6 trong Báo cáo Đầu tư Xây dựng Công trình (VJC)

Một mặt, kết quả mới cho thấy tính khả thi kinh tế cao hơn của dự án ĐSCT, cụ thể là tỷ lệ nội hoàn kinh tế có thể lên đến 16% trong phương án giá vé số 2. Mặt khác, kết quả này cho thấy bằng cách thay đổi một số giả định liên quan đến chi phí và lợi ích của dự án đầu tư, người ta có thể biến một kết quả không khả quan trở thành khả quan, ít nhất là trên giấy tờ.

Bên cạnh những sự phóng đại về lợi ích và thu nhỏ chi phí trong phương án điều chỉnh, Báo cáo còn phóng đại nhu cầu hành khách, lợi ích nhờ tiết kiệm thời gian và giảm tai nạn giao thông khi có tàu cao tốc. Đầu tiên hãy xem xét dự báo về nhu cầu, được đo bằng tổng số hành khách nhân với số ki-lô-mét trung bình (viết tắt hk-km). Từ kinh nghiệm của các quốc gia có hệ thống đường sắt cao tốc, trong dài hạn tốc độ tăng hk-km thường dưới 4% và luôn nhỏ hơn một cách đáng kể so với tốc độ tăng GDP (xem Bảng 3).

Bảng 3. Tốc độ tăng trưởng GDP và hk-km của một số nước (1970-2008)

Quốc gia

1970 - 1990

1990 - 2008

Tăng GDP

Tăng hk-km

Tăng GDP

Tăng hk-km

Pháp

3,0%

2,2%

1,8%

1,4%

Đức

2,6%

0,6%

1,7%

3,2%

Ý

3,1%

1,6%

1,3%

0,5%

Nhật

4,2%

1,5%

1,3%

0,2%

Hàn Quốc*

8,0%

-

5,3%

1,6%

Anh

2,3%

0,4%

2,4%

2,1%

Tây Ban Nha

3,3%

0,6%

2,9%

1,8%

Nguồn: Số liệu GDP từ World Development Indicators, số liệu hk-km từ International Transport Forum

Ghi chú: Số liệu hk-km của Hàn Quốc là cho giai đoạn 1995 - 2008.

Số liệu ở Bảng 3 cho thấy, từ khi lần đầu tiên đưa tuyến đường sắt cao tốc Tokyo - Osaka vào hoạt động vào năm 1964, trong thời gian 20 năm sau đó (từ 1970 - 1990), tốc độ tăng trưởng hk-km của Nhật chỉ là 1,5%, thấp hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng GDP 4,5% trong cùng thời kỳ. Tương tự như vậy, trong gần 20 năm sau khi đưa đường sắt cao tốc vào vận hành ở Ý (1991) và Tây Ban Nha (1992), tốc độ tăng trưởng hk-km ở hai nước này lần lượt là 0,5 và 1,8%. Ngay ở Đức, một trường hợp đặc biệt với tốc độ tăng hk-km cao hơn tốc độ tăng GDP thì tốc độ tăng hk-km kể từ khi có tuyến đường sắt cao tốc đầu tiên (1991) cũng chỉ là 3,2%.

Ở Việt Nam, trong giai đoạn 1995 - 2008, tốc độ tăng GDP và hk-km trung bình lần lượt là 7,3% và 6,0%. Thế nhưng theo dự báo của Bộ Giao thông Vận tải, tốc độ tăng hk-km trung bình trong giai đoạn 2008 - 2030 của Việt Nam sẽ lên tới 9 - 10%, cao gấp nhiều lần so với tốc độ tăng hk-km của các nước có đường sắt cao tốc khác, đồng thời cao hơn đáng kể so với khả năng tăng trưởng GDP 7-8% của Việt Nam. Kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn của Việt Nam cho thấy dự báo của Báo cáo về nhu cầu hành khách như vậy là quá lạc quan.

Báo cáo cũng phóng đại quá mức lợi ích nhờ tiết kiệm thời gian của những người chuyển từ các phương thức đi lại khác sang tàu cao tốc bằng cách phóng đại thu nhập trung bình của những người này. Cụ thể là Báo cáo cho rằng vào năm 2008, những người đi xe bus, đường sắt, hay đường thủy trên tuyến Bắc - Nam có thu nhập trung bình là 200 đô-la/tháng, tức là 2.400 đô-la/năm. Điều này mâu thuẫn với thực tế là đa số những người sử dụng các phương tiện này thuộc nhóm thu nhập thấp và trung bình (như lao động di cư từ miền Trung ra Hà Nội hoặc vào TP. HCM chẳng hạn), và vào năm 2008, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam mới xấp xỉ 1.000 đô-la, tức là chỉ bằng 40% mức do Báo cáo đưa ra.

Báo cáo cũng thổi phồng lợi ích thu được do giảm tai nạn giao thông bằng cách phóng đại tỷ lệ giảm tai nạn giao thông đường bộ hàng năm lên tới 20%. Ngay cả khi dự báo quá mức nhu cầu đối với đường sắt cao tốc thì tỷ lệ này vẫn còn quá cao vì trên thực tế, hơn 50% số vụ tai nạn giao thông đường bộ ở Việt Nam xảy ra trong đường nội tỉnh hay nội thị. Nhìn vào kinh nghiệm các nước, việc xuất hiện đường sắt cao tốc không nhất thiết đi kèm với giảm tỷ lệ tai nạn, và ngay cả trong trường hợp tỷ lệ tai nạn có giảm thì cũng chỉ ở mức vài phần trăm mỗi năm.

Theo số liệu của Diễn đàn Giao thông Quốc tế, trong giai đoạn 1990 - 2008, số vụ tai nạn đường bộ ở Đức giảm từ 340.000 xuống còn 320.600 vụ (giảm trung bình 0,3%/năm), ở Anh giảm từ 255.000 xuống 176.800 vụ (giảm trung bình 2,2%). Trong khi đó, trong cùng thời kỳ, số vụ tai nạn đường bộ ở Ý lại tăng từ 161.800 lên 219.000 (tăng trung bình 1,7%/năm) và ở Nhật tăng từ 643.100 lên 766.100 (tăng trung bình 1%/năm).

Tất nhiên mỗi quốc gia có hoàn cảnh khác nhau nên tỷ lệ tăng giảm tai nạn giao thông có thể khác nhau. Song việc Báo cáo cho rằng tỷ lệ giảm tai nạn ở Việt Nam có thể gấp 10-20 lần so với các nước khác, hơn nữa lại không phù hợp với thực tế của Việt Nam như trên đã trình bày buộc chúng ta phải đặt câu hỏi về tính chính xác của dự báo trong Báo cáo.

Những ví dụ vừa nêu về sự phóng đại lợi ích, đồng thời thu nhỏ chi phí trong phân tích chi phí - lợi ích của Báo cáo gợi ý rằng các phân tích tài chính và kinh tế của Báo cáo cần được thẩm tra lại một cách thận trọng, để từ đó có được đánh giá chính xác hơn về hiệu quả của dự án.

Thông tin có đầy đủ?

Tờ trình Báo cáo đầu tư do Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải (GTVT) thay mặt chính phủ trình với Quốc hội miêu tả hết sức vắn tắt bốn phương án đầu tư, sau đó kết luận ngay rằng "sau khi phân tích kỹ các phương án, để đáp ứng các yêu cầu về vận tải đối với tuyến Bắc - Nam, đề nghị lựa chọn phương án 4" - tức là xây dựng tuyến đường sắt cao tốc chỉ để chở khách.

Để ủng hộ cho phương án 4, Tờ trình lần lượt phủ định các phương án khác vì nhiều lý do khác nhau, trong đó có những lý do rất thiếu thuyết phục. Chẳng hạn như lập luận trong Tờ trình để phản đối phương án 3 là "phương án này có nhược điểm là việc nâng cấp tuyến đường sắt hiện tại sẽ thỏa mãn nhu cầu vận tải khách địa phương và vận tải hàng hóa; tuy nhiên, việc xây mới tuyến đường 1.435mm không đạt được mục tiêu vận tải khách với tốc độ cao."

Trên thực tế, với một nền kinh tế còn nghèo như Việt Nam, việc vừa có thể chở hàng hóa, vừa có thể chở hành khách phải được coi là một ưu điểm của phương án 3 vì nó cho phép tận dụng hiệu quả kinh tế nhờ phạm vi.

Hơn nữa, với việc kết luận phương án 3 "không đạt được mục tiêu vận tải khách với tốc độ cao," vô hình trung Tờ trình đã biến phương tiện (tốc độ cao) trở thành mục tiêu! Suy đến cùng, việc lựa chọn tốc độ đường sắt phải xuất phát từ những phân tích khoa học về hiệu quả chung cho toàn bộ nền kinh tế chứ không thể duy ý chí hay chỉ thỏa mãn nhu cầu "hoành tráng" của một thiểu số.

Về mặt lý thuyết cũng như thực tiễn, tốc độ giao thông của một quốc gia là một nhân tố quyết định tới cấu hình kinh tế, và qua đó tới tốc độ và trình độ phát triển của quốc gia. Gia tăng tốc độ giao thông góp phần gia tăng lợi ích kinh tế. Tuy nhiên, không phải mọi sự gia tăng tốc độ, và do vậy tiết kiệm được thời gian, đều đem lại lợi ích biên (marginal benefit) như nhau.

Lấy trường hợp của của ngành đường sắt Việt Nam làm ví dụ. Việc tiết kiệm được 24,5 giờ do giảm hành trình từ 30 xuống 5,5 giờ với phương án 4 chắc chắn sẽ đem lại những lợi ích kinh tế to lớn. Tuy nhiên, so với phương án 2 hay 3 (tốc độ trung bình 200 km/h, tiết kiệm được 30 - 8 = 22 giờ), thì lợi ích về mặt tiết kiệm thời gian của phương án 4 không thực sự ưu việt hơn. Đấy là chưa kể đến ưu thế tuyệt đối của đường sắt 200 km/h so với đường sắt cao tốc đối với việc chở hàng hóa. Nói một cách tóm tắt, lợi ích biên của việc tăng tốc độ có xu hướng giảm dần.

Ngược lại, chi phí biên (marginal cost) của việc tăng tốc độ lại có xu hướng tăng dần. Lý do là khi tăng tốc độ thì để đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật và an toàn, một loạt các khoản chi phí sẽ phải tăng lên một cách đáng kể. Cụ thể là kết cấu hạ tầng phải tốt hơn, chất lượng đầu máy và toa xe phải cao hơn, điều kiện an toàn nghiêm ngặt hơn dẫn đến chi phí cao hơn, rồi chi phí bảo hành, bảo dưỡng, đào tạo v,v. tất cả đều có xu hướng tăng theo vận tốc.

Phối hợp hai xu hướng lợi ích biên giảm dần trong khi chi phí biên tăng dần cho thấy, xuất phát từ tốc độ thấp, việc tăng tốc sẽ đem lại lợi ích lớn hơn chi phí. Ngược lại, một khi đã đạt tốc độ cao rồi thì chi phí của việc tăng tốc có thể lớn hơn lợi ích.

Quay lại trường hợp đường sắt ở Việt Nam, rõ ràng là tốc độ trung bình 50 km/h hiện nay vẫn còn thấp hơn tốc độ tối ưu, vì vậy việc tăng tốc độ đường sắt là rất cần thiết. Tuy nhiên, Báo cáo chưa có những luận chứng thực sự thuyết phục để chứng minh rằng vận tốc thiết kế trung bình khoảng 300 km/h thực sự là vận tốc đem lại hiệu quả tối ưu đứng trên góc độ tổng thể của toàn bộ nền kinh tế. Không những thế, Báo cáo không thực sự lý giải tại sao phương án 2 hay phương án 3 với tốc độ trung bình 200 km/h lại kém hiệu quả hơn so với phương án do Báo cáo khuyến nghị.

Liệu cơm gắp mắm

Dự án ĐSCT có quy mô rất lớn, tương đương 60% GDP và 250% ngân sách quốc gia của Việt Nam trong năm 2009. Hơn nữa, dự án này sẽ được thực hiện trong khoảng ¼ thế kỷ với rất nhiều biến số bất định, nằm ngoài tầm kiểm soát và dự đoán. Vì những lý do này, Việt Nam cần đánh giá một cách thận trọng tính khả thi và hiệu quả của dự án, và đặc biệt là cần lường trước những rủi ro kinh tế và tác động của phương án tài trợ dự án đối với nền tài khóa quốc gia.

Theo phương thức huy động vốn được trình bày trong Báo cáo, bình quân một năm cần huy động được 4,4 tỷ đô-la cho dự án ĐSCT, trong đó nguồn vốn từ ngân sách là 0,57 tỷ, từ ODA và vay thương mại khác là 2,44 tỷ, và vốn từ khu vực doanh nghiệp là 1,3 tỷ. Với cách phân bổ nguồn vốn như thế này, vốn từ ngân sách nhà nước cho riêng ĐSCT đã lên tới 15% tổng vốn đầu tư xây dựng cơ bản (XDCB) từ ngân sách trung ương. Đấy là chưa kể khoản đầu tư cho GTVT từ tiền ứng trước ngân sách, từ các khoản ngoài ngân sách như ODA và trái phiếu chính phủ (các khoản này trong năm 2009 là 31.000 tỷ, tương đương 27% vốn đầu tư XDCB từ ngân sách trung ương).

Hiện nay mỗi năm Việt Nam phải trả nợ viện trợ gần 4 tỷ đô-la, bên cạnh đó, theo theo Bộ Tài chính đến cuối năm 2009, nợ nước ngoài của Việt Nam vào khoảng 30% GDP, còn nợ công đã ở mức 44,7% GDP. Vì vậy, việc vay thêm mỗi năm 2,44 tỷ, trong đó phần lớn sẽ là các khoản vay thương mại do Việt Nam đã trở thành quốc gia thu nhập trung bình, thì gánh nặng nợ nước ngoài và nợ công và nợ nước ngoài sẽ tăng một cách đáng kể, thậm chí có thể nhanh chóng vượt quá tầm kiểm soát.

Hình 1 cho thấy, trong vòng 8 năm (từ 2001 đến 2009), mức nợ công trên đầu người của Việt Nam tăng gần bốn lần. Như vậy, trong giai đoạn này, gánh nặng nợ công trên vai mỗi người dân Việt Nam hàng năm tăng trung bình hơn 18%, cao gấp 2,5 lần so với tốc độ tăng trưởng GDP trung bình của cùng thời kỳ. Với những dự án khổng lồ như ĐSCT (56 tỷ đô-la), xây dựng cơ sở hạ tầng (CSHT) mới cho thủ đô Hà Nội (90 tỷ đô-la), nhà máy điện hạt nhân (hơn 10 tỷ đô-la), hệ thống tàu điện ngầm ở TP. HCM (hơn 10 tỷ đô-la) cùng rất nhiều dự án đầu tư cần thiết khác cho giáo dục, y tế, CSHT giao thông, an sinh xã hội v.v., chắc chắn nợ quốc gia sẽ tăng nhanh, làm cho gánh nặng nợ nần trên vai các thế hệ tương lai càng trở nên nhức nhối. Vì lý do này, hiệu quả kinh tế của mỗi dự án khổng lồ này cần được cân nhắc với tinh thần trách nhiệm cao nhất để đảm bảo trả được nợ, giảm bớt gánh nặng trên đôi vai của người dân.

Cũng cần thận trọng trong việc dự báo khả năng huy động vốn từ khu vực doanh nghiệp, mà quan trọng nhất chắc chắn phải là Đường sắt Việt Nam với tư cách là đơn vị chủ đầu tư. Thực tế là Đường sắt Việt Nam trong một thời gian dài đã rất vất vả chỉ đề hòa vốn, vì vậy khả năng huy động nguồn tài chính từ đơn vị này sẽ hạn chế. Vì lý do này, Báo cáo nên xem xét lại tính hiện thực của dự kiến huy động 1,3 tỷ đô-la mỗi năm từ khu vực doanh nghiệp.

Khi tăng đầu tư rất lớn cho một khu vực, trong trường hợp này là ĐSCT, tất yếu sẽ dẫn tới hiệu ứng chèn lấn đối với các khu vực khác. Cụ thể là trong điều kiện của một nước đang phát triển, với nhu cầu về CSHT rất lớn như Việt Nam hiện nay, việc dồn đầu tư cho dự án ĐSCT sẽ ngay lập tức ảnh hưởng đến nguồn vốn cho các dự án CSHT thiết yếu và cần kíp khác. Không những thế, việc tập trung một nguồn vốn rất lớn cho khu vực công cũng sẽ hạn chế khả năng tiếp cận vốn của khu vực kinh tế dân doanh, mà trên thực tế khu vực này đang tạo ra hơn 90% việc làm mới cho nền kinh tế.

Ảnh minh họa: sinhvien.thuyloi.vn
Bên cạnh việc đề ra phương án tài trợ cho dự án ĐSCT, Báo cáo cũng cần thảo luận thêm về phương thức và lộ trình trả nợ trong bối cảnh chung về nợ công của quốc gia. Đồng thời, báo cáo cũng cần đánh giá tác động của việc tăng nợ công, nợ nước ngoài đối với các khu vực kinh tế khác cũng như đối với nền kinh tế vĩ mô của quốc gia.

"Nhấn nút" cho quyết định nào?

Với những thông tin thiếu chính xác, chưa đầy đủ và có phần chủ quan như thế này của Báo cáo đầu tư, chắc hẳn những đại biểu có trách nhiệm sẽ cảm thấy rất đắn đo khi phải nhấn nút. Về mặt hình thức, Bộ GTVT chỉ kiến nghị Quốc hội kỳ này quyết định chủ trương đầu tư. Tuy nhiên, như được ghi rõ trong Tờ trình của Bộ GTVT, "chủ trương đầu tư" này bao gồm những thông số hết sức cụ thể như quy mô dự án mặc nhiên là đường sắt cao tốc 300 km/h, tổng mức đầu tư mặc định là 55,8 tỷ đô-la v.v. Một cách khách quan, đòi hỏi họ phải nhấn nút cho quyết định chủ trương đầu tư như thế trong kỳ họp lần này là không công bằng vì làm thế tức là buộc họ phải chịu trách nhiệm, một trách nhiệm hết sức to lớn trước đất nước và trước những thế hệ tương lai, trong khi thiếu thông tin đầy đủ và chính xác. Vì vậy, yêu cầu cao nhất nếu có đối với họ chỉ có thể là phân tích và góp ý thật cặn kẽ mọi lẽ thiệt hơn đối với Báo cáo đầu tư dự án ĐSCT để có thể giúp cơ quan soạn thảo tiếp tục hoàn thiện báo cáo và trình lại Quốc hội trong một kỳ họp khác.

Bình luận: Từ Việt kiều đến “ngôi” Hoàng kiều

Nước non ngàn dặm trong trái tim người ra đi có dăm bảy đường đi lối về. Có người vì cõi nhân gian với cả tấm lòng. Nhưng có kẻ với bề ngoài sang trọng, dùng tiền để mua cả một dân tộc cả tin.

http://www.nguoiduongthoi.com.vn/Image.aspx/image=pjpeg/1afa7b55cdf64944bb9145bca081997f-04-6.jpg/04-6.jpg

Câu ca muôn thuở "mỡ nó rán nó"

Trong thế giới hội nhập nhiễu nhương, giá trị ảo, thật hay đạo đức thật, rởm dễ bị đảo lộn, đôi lúc cần tỉnh táo trước những lời đường mật, những dự án hươu vượn của những kẻ "nhân danh".

Nói đến Việt kiều ai cũng nghĩ đó là những người giầu có, sang trọng, học thức đầy người. Rất nhiều đã thành đạt nơi xứ người, mang lại vẻ vang cho người gốc Việt.

Quả thật, không ít người trở về quê hương, góp phần xây dựng đất nước. Người ở quá xa, không có điều kiện trở về do nhiều nguyên nhân thì đóng góp bằng tri thức quí báu. Nhưng đôi lúc với cái mác "trở về cội nguồn" nhằm đánh bóng bản thân, lại có kẻ kiếm chác rất nhiều tiền trên sự cả tin của đồng bào trong nước.

Tôi nhớ có lần đọc bài viết về một người Mỹ gốc Việt trên báo Thanh Niên (12-2006), tác giả mô tả một con người đầy nghị lực ý chí, quyết làm giầu và thành đạt nơi xứ người. Xin trích một đoạn: "Một ngày bình thường của ông bắt đầu bằng việc dậy sớm, thực hiện bài chạy bộ hơn 8 cây số trên con đường gần nhà ở Westlake, bang Cali. Hoàng Kiều, người Mỹ gốc Việt từng có dịp gặp gỡ Tổng thống George Bush khi ông đoạt giải Doanh nhân 2005 tại Mỹ là một người nghiện công việc và nghiện...làm từ thiện".

Tác giả còn cho biết chi tiết " Hiện là Tổng giám đốc của tập đoàn chuyên cung cấp các sản phẩm từ huyết tương RAAS (Rare Antibody Antigen Supply Inc) có mạng lưới rộng khắp nước Mỹ và chi nhánh tại Trung Quốc, Hoàng Kiều vốn nổi tiếng là người chi mạnh tay cho các dự án từ thiện. Riêng tại Việt Nam, chỉ từ tháng 6.2006 đến nay, Công ty RAAS Hoàng Gia của ông đã chi đến 20 tỉ đồng để xây hơn 1.000 nhà cho người nghèo, cứu trợ lũ lụt và giúp đỡ các trẻ em tàn tật. Thông qua quỹ từ thiện của Báo Thanh Niên, ông đã đóng góp 1,5 tỉ đồng, trong đó 1,3 tỉ dành riêng cho việc xây 130 căn nhà tình nghĩa" .

Vào Google gõ "Hoàng Kiều" thì có tới vài triệu kết quả. Rất nhiều ảnh đại gia này chụp với nhiều người đẹp trên khắp thế giới. Có cả ảnh chụp chung và có cả chữ ký của Tổng thống Bush, thì ai dám không tin rằng đây là người Việt đã thành danh toàn cầu.

Đôi khi rỗi, tôi hay "bước" theo các nhà báo, đọc về người Việt kiều nổi tiếng này. Tổ chức "thành công" Miss World 2008, trước đó là hoa hậu thế giới người Việt ở Vinpearl(10-2007), ông Hoàng Kiều tiếp tục đề nghị nhà nước ta cho phép thành lập dự án "Ngàn sao" tại Nha Trang để thi hoa hậu thế giới 2010.

Nghe nói, thời niên thiếu chỉ mặc quần xà lỏn, nên khi thành đạt, ông vẫn thích các người đẹp mặc "xà lỏn thời hiện đại". Các cuộc thi người đẹp do ông đề xướng nhằm khoe sắc nước hương trời và quảng bá cho nền văn hóa "lúa nước". Có lẽ đất nước mình với 80% nông dân "bán mặt cho đất, bán lưng cho trời", lặn lội đồng sâu nên cần chân thật dài để không bị ướt quần.

Tuy nhiên dự án "ngàn sao" đã trở thành "không sao" vì khu đất đó chưa "thỏa thuận" được với giá như ai mong muốn. Không làm ở Nha Trang thì đến nơi khác như Tiền Giang chẳng hạn.

Hình như các nhà báo "yêu mến" người Mỹ gốc Việt này nên họ khen nhiều hơn cả chính người trong cuộc mong đợi. Một tờ báo còn thanh minh cho việc "gió đã xoay chiều" bằng một loạt bài "Tuổi thơ một chiếc quần xà lỏn".

Bài báo có đoạn: "Tôi biết hiện nay cả 5 người con của ông đều thành tài và đã có cơ nghiệp ở nước ngoài nên ông có thể yên tâm "dành hết phần đời còn lại của mình cho quê hương" như ông đã nói".

Báo chí rùm beng, tung hô người quay về xứ sở với trái tim khối óc dành cho đất mẹ bằng những cuộc thi hoa hậu tốn kém, trong khi dân nghèo xứ này không đủ cơm ăn áo mặc, học sinh đến trường không có bàn ghế, không nhà vệ sinh, tới trường không có dép trong mùa đông giá lạnh.

Chi phí những lần cho các chân dài du hý, chụp ảnh ngoài bãi biển hay đi làm từ thiện hời hợt, có thể xây hàng chục trường trên miền núi, mỗi trường vài tỷ. Tiền của đại gia bỏ ra ư? Nhầm, "mỡ nó rán nó" là câu ca muôn thưở của người đi buôn từ xa xưa đến bây giờ.

Trên trái đất, ở rất nhiều quốc gia, thế giới mafia có thể thao túng cả chính quyền và mua đứt vài tờ báo. Những kẻ bồi bút không thiếu vì các đại gia biết dùng phương tiện truyền thông rất rẻ cho mục đích PR (quảng cáo) cho chính họ. Các chuyến đi làm từ thiện, dùng các chân dài "lội" trên nhung lụa, thực chất là những cú PR tuyệt vời mà giới truyền thông đã giúp không công.

Mải tung hô, thán phục, ít ai nhớ ra dưới chân các người đẹp "mặc xà lỏn" là...đất. Bước catwalk tới đâu, nhả "lời hay ý đẹp" tới đó, là những miếng đất nhả ngọc châu thật, và người tổ chức chỉ việc đi theo nhặt bỏ túi.

Mác "kiều" mua được ngai vua?

Có người đã gióng hồi chuông cảnh báo vì những cú hích thi quảng bá chân dài, mà phía sau có thể là những dự án chia chác bất động sản hay bãi biển mê hồn. Nhưng tất cả rơi vào im lặng chỉ vì đôi chân gợi tình, gò bồng đảo lồ lộ, tiếng cười, tiếng hát, tiếng hò reo trên sàn diễn ở Vinpearl át đi.

Mấy hôm nay, người ta cũng chả ngạc nhiên khi báo chí VN, kể cả những tờ báo đã từng tung hô, khen hết lời, lại nóng lên chuyện chính ông Việt kiều này không thèm "nhập khẩu chân dài" về Tiền Giang nữa. Ông ta mua luôn Công ty Cổ phần Du lịch Tiền Giang và nhiều chuyện động trời khác.

Tôi vốn không tin báo chí viết nhiều vì đôi lúc là do những đề nghị của ai đó đứng trong bóng tối. Nhưng tiếng ỷ eo, lời đồn đại, rằng người ta mua bán tài sản nhà nước "to" bằng giá "bèo" lại cứ văng vẳng bên tai. Hai chú cháu tự đấu giá với nhau một tài sản khổng lồ thông qua một hệ thống quản lý "của dân, do dân, vì dân" một cách nhẹ nhàng.

Trên thế giới đã có những cú đầu tư vài triệu đô la ban đầu vào một nước nghèo, với vài trăm ngàn làm từ thiện để báo chí, tivi đưa tin, nhưng sau đó là những ký kết có lời hàng tỷ đô la. Buôn một bán nghìn rất dễ.

Chuyện từng xảy ra ở châu Phi, Đông Âu, châu Á, nhưng nếu nó tái diễn ở một đất nước nghèo như Việt Nam và do chính đồng loại máu đỏ da vàng "mua mua bán bán" thì đắng cay muôn phần.

Nước non ngàn dặm trong trái tim người ra đi có dăm bảy đường đi lối về. Có người vì cõi nhân gian với cả tấm lòng. Nhưng có kẻ với bề ngoài sang trọng, dùng tiền để mua cả một dân tộc cả tin.

Không phải cứ có tiền là mua được hết. Nhưng có kẻ từng tuyên bố rất tự tin rằng "cái gì không mua được bằng tiền thì sẽ mua được bằng rất nhiều tiền".

Viết tới đây, tôi bỗng nhớ câu ca thuở nào mà người đời cay đắng đúc kết thật sâu sắc: "Tiền là tiên là phật. Là sức bật con người. Là nụ cười tuổi trẻ. Là sức khỏe cụ già. Là cái đà danh vọng. Là lọng của nịnh thần. Là cán cân công lý. Tiền là ...hết ý".

Những đồng tiền ấy làm mờ mắt đôi người nên mới có những kẻ "Việt kiều" từ nơi xa lạ lên "ngôi Hoàng kiều" ở đất nước Việt Nam nghèo khó này.

Theo TuanVietNam

Thứ Sáu, 1 tháng 1, 2010

Bánh Pizza, gà rán KFC, xe SH và văn hóa sành điệu của người Việt trẻ…

Chuyện kể rằng…

Pizza

Những người da đen nhập cư phải ngủ trong những chiếc túi ngủ tại những khu phố ổ chuột đem thứ bột mì rẻ tiền trộn lẫn với những thực phẩm được chính phủ tiếp tế nướng lên thành một thứ bánh người ta quen gọi là Pizza…Và giờ đây, nó xuất hiện ở Việt Nam trên những bàn ăn đẹp đẽ, là món ăn sang trọng dành cho những người có tiền và muốn khám phá ẩm thực Âu Châu …

Chuyện kể rằng…

Chiếc bánh Pizza bay sang nước Ý và trở thành 1 món ăn nhanh phổ biến của công nhân, thợ quét vôi vì nó rẻ tiền và đủ chất dinh dưỡng . Một cơ sở sản xuấtPizza lớn của Ý đã đặt hàng Honda sản xuất 1 loại xe máy tay ga, máy khỏe, gầm cao, yên lớn, có thể vượt qua những con dốc dễ dàng, có thể chở được nhiềuPizza cho nhân viên giao bánh. Đó là chiếc xe SH, biểu tượng của sành điệu, chơi bời của dân chơi Việt.

Xe SH
8 nhân viên giao bánh

Xe SH
Đội ngũ giao Pizza đông đảo

Chuyện kể rằng…
KFC mở ra những quầy hàng di động phục vụ món humberger, gà rán, khoai tây chiên …tại nhà ga, trường học, những điểm đông người dành cho những kẻ ít tiền bạc và ít thời gian. Họ ăn humberger trên đường tới trường, tới chỗ làm thêm hay trên những chiếc ghế đá công viên sau 4 tiếng nhổ cỏ đầy mệt mỏi …Món gà rán và humberger là biểu tượng của những người thành đạt, nhiều thời gian, sành ăn uống tại Việt Nam …

KFC Kentucky

Chuyện kể rằng…

Người ta nhìn thấy những cô chiêu cậu ấm trên những chiếc xe SH bòng bẩy không đi giao Pizza, mặt mày hớn hở vênh vang. Người ta nhìn thấy những người ngồi ăn pizza trong những nhà hàng sang trọng mà không mang theo 1 chiếc túi ngủ nào cả. Người ta nhìn thấy những người nhiều thời gian và tiền bạc đang ăn món gà rán, khoai tây chiên. Người ta nhìn thấy cả một thế hệ người Việt cho là mình sành điệu và văn hóa …

Sưu Tầm

Thứ Năm, 19 tháng 11, 2009

Kiếp Cave: Biệt dược cho những thiếu nữ “đèn đỏ”

Em lờ mờ nhận ra cái bí mật ẩn giấu sau những cơn co giật, những giằng xé cào cấu lên thể xác của anh ta. Giấu mình trong những giọt nước mắt, em lặng lẽ ngồi quan sát từng cử chỉ, hành động của người đàn ông mà em đặt tất cả niềm tin và sự yêu thương.

cave đắt hàng

Hạnh phúc lung linh mà em từng mơ tưởng, giờ cũng chỉ là ảo ảnh. Quá cay đắng và tủi hổ, em chạy vụt ra ngoài…

Rời quê Văn Giang, Hưng Yên lên Hà Nội làm ăn từ năm 2000. Công việc lao động chân chính đầu tiên cũng là cuối cùng của Kim Anh trước khi vào trại là nghề cắt tóc, gội đầu tại một quán ở phố Mai Hắc Đế. Lúc đầu, cuộc sống cũng khấm khá. Ngoài việc phải chi tiêu cho sinh hoạt hằng ngày, hàng tháng em vẫn gửi về cho bố một khoản tiền nho nhỏ để phụ giúp thêm kinh tế cho gia đình.

Làm được nửa năm thì Kim Anh quen được một anh bạn quê Hải Phòng. Hai người tâm đầu ý hợp nên tình cảm cứ dần nảy sinh qua những lần anh bạn này đến quán chơi. Dần dà, khi tình cảm quá lớn, cảm giác không thể sống xa nhau, không thể thiếu nhau, hai người quyết định thuê một căn phòng, sống chung.

Một người thì cứ quần quật làm cả ngày để kiếm tiền, một người thì chỉ biết ở nhà chờ đợi. Thời gian đầu, hai người rất hạnh phúc. Cuộc sống đủ ăn, đủ tiêu. “Một mái nhà tranh, hai trái tim vàng”. Mơ ước về cuộc sống trọn vẹn của Kim Anh cũng đạt được phần nào. Ngày ngày, em vẫn đi làm đều đặn, rồi một ngày em được về sớm. Trong lòng vui như mở cờ, vì được một ngày nhàn nhã bên người yêu. Đi trên con đường quen thuộc về nhà, em tự hỏi sao hôm nay đường lại dài đến vậy, lại còn tắc đường, như thể hôm nay mọi người đổ xô từ mọi chốn về đây, kìm hãm em về với người yêu. Cảm giác bồn chồn, sốt ruột cứ thế chen lấn trong dòng cảm xúc của em.

Đẩy cửa bước vào nhà, em gọi to tên người đàn ông mình yêu. Sau vài giây bàng hoàng, em nhận ra người ấy đang nằm vật vã trên sàn. Chưa kịp nhận thức tình trạng của bạn trai ra sao, em xốc anh ta lên giường với tất cả sức lực của một cô gái “liễu yếu đào tơ”. Em lờ mờ nhận ra cái bí mật ẩn giấu sau những cơn co giật, những giằng xé cào cấu lên thể xác của anh ta. Giấu mình trong những giọt nước mắt, em lặng lẽ ngồi quan sát từng cử chỉ, hành động của người đàn ông mà em đặt tất cả niềm tin và sự yêu thương. Hạnh phúc lung linh mà em từng mơ tưởng, giờ cũng chỉ là ảo ảnh. Bao nhiêu mơ ước của ngày xưa ùa về, bỗng chốc tan thành mây khói. Quá cay đắng và tủi hổ, em chạy vụt ra ngoài. Chạy đi đâu, chính bản thân em cũng không xác định được, chỉ biết rằng nếu em chạy càng nhanh thì ác mộng ấy sẽ tan nhanh như vậy. Em càng gắng sức chạy hơn.

Cách nhà cũng khá xa, em đứng lặng, tự cấu vào mặt mình xem có phải mình đang mơ không. Càng cấu mạnh, em càng cảm thấy đau đớn. Vết đau này cũng chẳng thấm gì so với trái tim em. Em quay lại ngôi nhà ám ảnh ấy. Người đàn ông ấy cũng qua cơn vật vã. Nhìn thấy bạn gái đi làm về sớm, anh cũng đon đả chào hỏi. Đáp lại sự nhiệt tình thái quá ấy là một ánh mắt thờ ơ, một khuôn mặt xanh xao, trắng bệch, hồ như không còn một giọt máu nào đang chảy nữa. Cuối cùng thì người bạn trai ấy cũng phải thú nhận với em rằng anh ta là một con nghiện. Em không khóc nữa, cũng không la hét, không giận dữ. Kim Anh chỉ nói: “Nếu anh yêu em thật lòng thì hãy cai nghiện đi anh ạ. Em sẽ chờ anh”. Đáp lại những lời yêu cầu khẩn khoản ấy chỉ là một cái nhìn thờ ơ, lãnh đạm. Kim Anh biết là mình không thể khuyên anh ta bỏ thuốc được.

“Đâm lao phải theo lao”, trong đầu em lúc này chỉ là suy nghĩ đó. Em băn khoăn chọn lựa giữa tình yêu và sự cô đơn. Cuối cùng thì em cũng chọn tình yêu, điều mà trong em luôn cảm thấy thiếu vắng từ khi em còn rất nhỏ. Thế rồi em dính vào ma túy lúc nào không hay. “Anh chơi được thì em cũng chơi được” – câu nói ấy đến giờ vẫn văng vẳng trong đầu em. Giá như ngày đó em đừng có lao vào con đường cụt, giá mà ngày đó em đừng có dại dột đặt cuộc đời mình trong tay người khác như vậy. Giá cuộc đời chấp nhận những cái giá như…

Phải kiếm tiền nuôi thuốc cho cả hai, từ nghề cắt tóc, gội đầu, Kim Anh đã chuyển hẳn sang mại dâm. Cho đến khoảng giữa năm 2001, em cùng người yêu và một số người bạn gái về Đồ Sơn chơi. Trong một lần tình cờ, người bạn gái của em, cũng là cháu họ của người yêu, say rượu, và chính cô bạn này cũng thừa nhận rằng chú của mình đã có vợ con ở quê.

Thêm một lần nữa, trái tim em lại bị tổn thương. Nỗi đau lần trước đã nguôi, giờ lại tiếp đau đớn này. Qua biến cố đó, em nhận ra, tình cảm của mình đã bị lợi dụng. Em ân hận về những ngày tháng em hiến dâng, hi sinh cuộc đời cho người đàn ông đó. Em chấm dứt cuộc tình dại dột ấy. Đó là lúc em thấy cuộc đời sụp đổ dưới chân mình.

Năm 2003, em bị bắt khi đang hành nghề ngoài đường và bị đưa lên đây. Đến năm 2005, Kim Anh được ra trại. Em tìm về với quê hương. Về quê, thăm bố, thăm anh, thăm họ hàng. Mẹ mất từ khi lên bảy tuổi, bố đi lấy dì hai, Vũ Kim Anh phải sống trong cảnh “mẹ ghẻ con chồng”. Hồi đó, đang học phổ thông thì em phải nghỉ học. Phần vì anh trai thua bạc, đánh đập chửi bới suốt ngày, phần vì mẹ ghẻ không cho tiền đóng học. Chỉ còn người cha là có thể nương tựa, nhưng em cũng không dám nói lên những sự thật ấy cho bố biết, vì bố em rất nể bà mẹ kế ấy.

Quá chán nản, Kim Anh bỏ nhà đi nhiều ngày liền, em lang thang ngoài đường, khi thì ở nhà họ hàng, khi thì ở nhà bạn. Dù có phải đói rách em cũng không chịu quay trở lại ngôi nhà của mình.

Từ khi em về nhà, hằng ngày em chỉ biết quanh quẩn ở nhà, chỉ ăn, ngủ, rồi thỉnh thoảng phụ giúp việc lặt vặt trong gia đình. Những ngày tháng này lại làm em nhớ lại khoảng thời gian trước khi em phải ra xứ người (Hà Nội) làm ăn. Giờ thì càng phải chịu những cái lườm nguýt, sự nhiếc móc, khó chịu của dì ghẻ. Giống như mọi buổi sáng, em thức giấc nhưng chưa chịu ra ngoài. Em vẫn nằm suy nghĩ. Loáng thoáng nghe thấy tiếng mắng mỏ của mẹ ghẻ, em chạy đến bên cửa, áp tai để cố nghe cho rõ, cố nuốt lấy từng lời của mẹ nói với bố: “Nó đã dậy chưa?”, mẹ hỏi. Bố em chỉ nói: “Chưa. Nói khe khẽ thôi, để cho nó ngủ một lúc nữa cũng được”. “Bây giờ vẫn còn ngủ rạch xác ra thì lấy gì mà đút vào mồm? Con gái con đứa, chẳng làm ăn được cái gì, suốt ngày ăn bám. Nhìn thấy cái mặt nó là tôi ngứa cả mắt. Ông bảo nó muốn ở đây thì kiếm việc mà làm. Không thì đừng có về cái nhà này nữa”.

Từng lời mẹ nói như cứa vào tim. Em hiểu rằng mình không thể tiếp tục ở lại ngôi nhà này nữa. Lại một lần nữa, em phải khăn gói ra đi. Em đi mà không ai níu kéo em lại, không ai buồn hay thương cảm cho em. Chỉ có bố là lặng lẽ. Nhưng em hiểu là bố em cũng không thể làm gì hơn cho em. Vì trong gia đình này, mẹ kế mới là người quyết định tất cả.

Khăn gói ra Hà Nội, gặp lại bạn bè cũ, đang trong lúc chán nản, em lại tái nghiện. Không có việc gì làm, không có tiền mua thuốc dùng, em lại lao vào con đường mại dâm. Bán thân xác để kiếm từng đồng tiền nuôi con virus trong người. Gia đình em biết em tái nghiện, nên đã gửi em vào trung tâm cai nghiện tự nguyện ở đường Láng-Hòa Lạc. Cho đến năm 2008 thì em thuộc diện bắt buộc vào đây (TTGD Lao động số 2, Yên Bài, Ba Vì, Hà Nội).

Những ngày tháng ở đây, em luôn nghĩ về bố. Em thương bố lắm. Lúc nào cũng sợ bố bị tổn thương, sợ không có ai chăm sóc cho bố. Mẹ đã bỏ em lại cuộc đời với bao bộn bề đau thương. Từ nhỏ, em đã phải học cách tự bảo vệ mình. Em phải ở nhà làm quần quật khi em đang ở độ tuổi ăn tuổi chơi. Nhưng em không vì điều đó mà thấy tự ti về bản thân. Em càng thương bố hơn, thương bố phải vất vả nhiều vì em.

Cho đến tận bây giờ, nghĩ lại những điều em đã làm, em càng đau xót hơn vì chưa làm được gì cho bố mà chỉ khiến bố phải lo lắng. Chỉ còn 5 tháng nữa là em được về hòa nhập lại xã hội. Còn bao nhiêu cám dỗ trong cuộc sống rất cần ở em sự quyết tâm vượt qua những điều đó. Em cũng tâm sự với tôi rằng, em cũng muốn về quê lắm.

Em bảo: “Em sẽ thử về quê một lần nữa, dù có thế nào thì em vẫn phải về để thăm hỏi bố em. Cũng lâu lắm rồi em chưa được gặp bố, không biết bây giờ bố em ra sao nữa”. Dù chưa thực sự có đủ dũng cảm để về lại quê hương, nhưng nó luôn là điều hối thúc em phải cai cho bằng được, để không phụ với tin tưởng của bố, không phụ với người mẹ đã mất của em.

Đâu đó trong con người em, vẫn luôn hướng về quê hương, vẫn mong muốn được xã hội chấp nhận và bao dung. Đây là lần thứ hai em ở đây rồi. Em bày tỏ nguyện vọng với tôi rằng không muốn vào đây lần nữa. Ở độ tuổi như em, cũng không phải là trẻ, nên ra ngoài em mong muốn có một công việc ổn định để em có thể làm lại cuộc đời.

Nhắc lại chuyện tình cảm của em, em rơm rớm nước mắt. Tình yêu của em có lẽ cũng đẹp như bao người khác nếu như con người đó không nghiện và không lừa dối em. Nhưng sự thật vẫn là sự thật, em đã dũng cảm chấp nhận nó. Em cảm thấy tiếc cho tình cảm của em dành cho không đúng người. Em cũng không căm giận, hay cảm thấy tuyệt vọng với tình yêu. Chỉ là một phút nông nổi của tuổi trẻ bồng bột. Tôi tin rằng một ngày em sẽ tìm thấy tình yêu đích thực của mình.

Theo Cảnh Sát Toàn Cầu

Kiếp Cave: Đón khách trong bóng đêm

Anh xe ôm chuyên chở “đào” kể: “Có hôm mưa dầm, cả đêm chỉ có một khách. Tụi “bảo kê’ cũng chặn mất phân nửa. Con N. uất, nó không chịu, tụi “bảo kê” rượt hai đứa chạy về tận khu trọ mới chịu tha! Bữa đó, áo của tui không phải ướt nước mưa, mà ướt nước mắt củacon N.”

cave đón khách

Vốn có cái thú lang thang, lại sống ở thành phố sầm uất nhất phương Nam, tôi không xa lạ gì với những chiếc xe ôm vẫn đưa đón khách giữa đêm hôm khuya khoắt. Khi những người lao động bình thường đã yên giấc ngủ ngon, cánh xe ôm chỉ còn hoạt động ở hai nơi là bến xe và bệnh viện. Và thực sự tôi sẽ không để ý đến họ, nếu không có một lần ngồi ở quán đêm đối diện Bến xe Miền Đông, tôi bất ngờ nghe một anh xe ôm khe khẽ hát nhạc Trịnh…

Không gian im ắng xung quanh khiến tiếng hát dù chỉ hát cho riêng mình của anh xe ôm vẫn đủ để tôi nhận ra một ca khúc không phải ai cũng thuộc “ta thấy em đi quanh từng giọt nước mắt, ta thấy em đi quanh từng ngọn nến tắt, nghe tiếng em kêu tên một ngày xa lắc muôn trùng. Ta biết em đêm đêm chờ đợi tiếng hát, ta biết em đêm đêm ru đời đã mất, nghe tiếng em run theo từng ngọn gió bấc sang mùa”.

Sự ngạc nhiên làm tôi thoáng giật thột khi nhìn thấy khuôn mặt khắc khổ và đen sạm của anh xe ôm tuổi ngoài bốn mươi. Tôi hiếu kỳ đến mời một điếu thuốc: “Ông có vẻ mê nhạc Trịnh đấy nhỉ?”. Anh xe ôm tròn mắt: “Đâu có! Tui có mê gì đâu!”. Tôi vặn: “Thì ông mới hát đấy!”. Anh xe ôm cười xòa: “Thì ra dzậy. Tôi nghe nó hát riết rồi quen!”. Tôi chưa kịp dò hỏi “nó” thì anh xe ôm đã xua tay: “Thôi, nó ra rồi, tui phải chở nó đi. Hôm nào rảnh nói chuyện tiếp. Đêm nào tôi cũng quẩn quanh ở đây mà!”.

Từ khu nhà nghỉ chập chờn ánh điện, một cô gái ngay từ cách ăn mặc đã dễ dàng “bắt tín hiệu” của khách làng chơi, hấp tấp đi ra. Nghe máy nổ, tiếng rồ ga, chiếc xe lao vút vẫn còn thoáng lại mùi nước hoa lạnh lẽo của “nó”!

Những chuyện buôn hương bán phấn của những cô gái ăn sương đã nhàm chán lắm rồi, nhưng linh tính mách cho tôi biết có điều gì tương đối thú vị ở cô gái và anh xe ôm ấy. Đêm sau tôi quay lại, ngó dọc ngó ngang tìm “cố nhân” chẳng thấy đâu. Năm phút, rồi nửa tiếng trôi qua, cũng chẳng thấy anh xe ôm hôm trước. Chủ quán nước nghe tôi thắc mắc, liền bảo: “Cứ yên tâm mà chờ, đằng nào chẳng đến “bãi đáp” này!”.

Theo lời kể của chủ quán, thì anh xe ôm mà tôi đã gặp không phải xe ôm chở khách vãng lai, mà là xe ôm chuyên chở “đào”. Mỗi anh xem ôm “hợp tác” chở một “đào” và chia tiền hằng đêmtheo thỏa thuận.

Ừ, thì chờ. Quả nhiên lát sau, thấy anh xe ôm chở cô gái ngoặc vào một nhà nghỉ, rồi quay ra đứng chờ ngay chỗ cũ. Nhận ra tôi, anh xe ôm chào một tiếng rõ to. Thế là trong thời gian cô gái vào nhà nghỉ không phải để…nghỉ, tôi cà kê cùng anh xe ôm.

Đầu tiên anh xe ôm “phỏng vấn” tôi: “Ông định vào nghề à?”. Tôi ậm ừ không trả lời trực diện, anh xe ôm tuôn luôn một mạch. Rằng, cái nghề xe ôm đặc biệt này cực khổ lắm, ban ngày phải lấy sức để ban đêm rong ruổitheo “đào”. Bữa nào “đào” no thì xe ôm rủng rỉnh, mà bữa nào “đào” đói thì xe ôm cũng treo miệng.

Thời gian làm việc giữa “liên doanh” xe ôm và “đào” từ khoảng 9h tối đến mờ sáng. Anh xe ôm ở chung xóm trọ với “đào”.

Một dạo anh chạy xe ôm bắt khách ở khu vực Bệnh viện Gia Định, nhưng bị cánh xe ôm “thổ địa” đe dọa đòi đánh đòi đuổi. Đang lúc định kiếm nghề khác thì anh gặp N. (tên cô “đào”) và quyết định “nâng cấp” lên thành “chuyên nghiệp chở một cô gái”. Tôi hỏi, thu nhập có khá hơn trước không? Anh cười, cái cười của một người vẫn còn ít nhiều chất phác: “Cũng tạm hà ông! Trung bình mỗi ngày được ba khách, 600 ngàn. Tụi “bảo kê” thu hết 300 ngàn,con N. 200 ngàn, tui được 100 ngàn!”.

Không kiềm được sự ngây ngô, tôi sốt sắng: “Bảo kê” gì? Anh xe ôm thẳng thừng: “Ông đừng tưởng bở. Rừng nào cọp đó. Đừng hòng qua mặt tụi nó!”. Rồi anh kể tiếp: “Có hôm mưa dầm, cả đêm chỉ có một khách. Tụi “bảo kê’ cũng chặn mất phân nửa.Con N . uất, nó không chịu, tụi “bảo kê” rượt hai đứa chạy về tận khu trọ mới chịu tha! Bữa đó, áo của tui không phải ướt nước mưa, mà ướt nước mắt củacon N . Tội nghiệp, “nó” mới 19, bằng tuổi con gái của tui ở quê chứ mấy! Tui không biết vì sao “nó” sa chân vào con đường này. Những lúc ế ẩm, nó ngồi sau xe tui cứ hát, hỏi gì cũng không nói. Đó, nó hay hát cái bài mà bữa nọ ông nghe tui hát đó!”

Có thể tôi và nhiều người may mắn hơn, có thể sống bằng một công việc tử tế. Chúng ta thật khó lòng hiểu được hết những xót xa và ngậm ngùi của những thân phận lấm lem vẫn được gọi là “dưới đáy xã hội”. Vì định mệnh đẩy đưa hoặc vì sa ngã khôn lường, họ chuồi dần cuộc đời vào bóng tối và kiếm tìm miếng ăn trong bóng tối. Làm sao chúng ta dám chắc, nơi vũng lầy buồn thương và lầm lỗi ấy, không có những đốm lửa le lói của trắc ẩn lương thiện.

Tôi không rõ mặt cô đào tên N. kia, tôi cũng không kịp hỏi anh xe ôm tên gì, nhưng câu chuyện của họ cứ nhoi nhói tận trái tim tôi một chút gì đắng đót xen lẫn âu lo. Tôi thử hình dung cô N. có tâm trạng như thế nào khi ngồi sau lưng anh xe ôm thầm thì hát trong một đêm mưa rả rích, mà không cách nào cắt nghĩa được tiếng ca ấy vang lên cho niềm đau khổ cá nhân hay cho nỗi lênh đênh kiếp người.

Cách đây không lâu, một đồng nghiệp của tôi mang một khuôn mặt đầy bí mật tâm sự. Có một đêm đi trực tòa soạn về khuya, anh đã bị hai tên lưu mang ép xe vào đường để giật máy tính xách tay. Khi anh bạn tôi còn bàng hoàng, thì một dáng người từ trong bóng tối lao xe máy ra đâm thẳng vào hai tên cướp. Kết quả, hai tên cướp bỏ của chạy lấy người. Anh bạn tôi rối rít cảm ơn người lạ mặt “nhớ câu kiến ngãi bất vi” và đề nghị cho phép viết một cái tin lên báo để tuyên dương hành động dũng cảm, không ngờ chỉ nhận được sự từ chối rụt rè: “Tui làm nghề chở “đào”, ông ạ!”.

Lúc nghe câu chuyện của đồng nghiệp, tôi đã không tin, và còn chế giễu khả năng bịa đặt. Bây giờ, đối chiếu với câu chuyện của anh xe ôm và cô gái tên N., tôi cảm giác hối hận vì mối hoài nghi dạo nào. Tôi gọi điện cho anh bạn, có ý hỏi han về anh xe ôm chở “đào” từng ra tay nghĩa hiệp. Thật bất ngờ, anh bạn tôi cho biết vẫn giữ liên lạc với anh xe ôm kia.

Lại một đêm ra phố nửa khuya, nhưng lần này tôi và anh bạn đến khu vực ngã năm Gò Vấp. Anh bạn tôi bấm điện thoại, chốc lát đã thấy một anh xe ôm xuất hiện. Anh bạn giới thiệu: “Cậu Hùng, ân nhân ngày xưa của tớ!”. Anh xe ôm tên Hùng e ngại nhìn tôi với ánh mắt khá dè chừng, nhưng rồi không khí thân mật cũng giúp mỗi người cởi mở hơn.

23 tuổi, Hùng đã từng thi đại học 3 lần nhưng không đậu. Nản chí, anh rời miền Trung vào Sài Gòn tìm kế sinh nhai. Hùng muốn mở một tiệm sửa xe, nhưng chưa có tiền, đành tạm thời chạy xe ôm. Quá trình gia nhập đường dây chở “đào” của Hùng cũng đáng gọi là lâm ly.

Có đêm, anh chở một người khách mặt mũi bặm trợn từ Công viên Phú Nhuận về cầu vượt ngã tư Ga. Tên khách xuống xe và… tỉnh queo đi thẳng. Thế là đánh nhau một trận tơi bời. Gã khách thượng cẳng tay hạ cẳng chân với Hùng hôm ấy có chút “máu mặt”, sau khi bị Hùng hạ đo ván, không những trả tiền đầy đủ mà còn… giới thiệu mối chở “đào”. Hùng khoe với giọng tự hào: “Hồi học phổ thông, tui đã đeo đai vàng Vovinam đấy chứ!”.

Tranh thủ Hùng đang hưng phấn, tôi hỏi về cô “đào” mà Hùng nhận chở hằng đêm. Hùng hơi ngập ngừng, rồi thong thả hé lộ góc khuất nghề xe ôm vẫn luôn giấu giếm: “Cô ấy tên M., xinh lắm. Cũng thuộc loại hạng sang đấy, mỗi “dù” 400-500 ngàn. Nói chung, mỗi ngày tui cũng được chia gần 200 ngàn!”.

Trong đôi mắt ánh lên một chút khác lạ, Hùng kể tiếp: “Có hôm tui chở M. đến khách sạn. Vừa xuống xe thì M. gặp người đồng hương. Thấy M. lúng túng, tui chủ động nắm tay cô ấy. M. vội vàng giới thiệu tui là bạn trai, để chào xã giao. Người đồng hương của M. còn khen tụi tui xứng đôi nữa chứ…”.

Tôi chen ngang: “Nếu M. hoàn lương, cậu có nghĩ đến hạnh phúc thực sự của hai người không?”. Hùng xoa bàn tay tỏ ra bối rối, hồi lâu anh mới trả lời: “Với nhan sắc của M., nếu có điều kiện gia đình tốt đẹp, cô ấy có thể cưới một đại gia! Nhưng hoàn cảnh hiện nay, không biết M. sẽ trôi dạt về đâu…”. Hùng bỏ lửng như vậy, và tôi cũng không nỡ truy vấn anh nữa. Chúng tôi im lặng hút thuốc và nhìn ra con đường vắng vẻ, chỉ có những tán cây đong đưa dưới ánh điện vàng hiu hắt.

Chuông điện thoại di động của Hùng reo lên, có lẽ là M. gọi đến rước ở “bãi đáp” nào đó. Tạm biệt, Hùng tha thiết dặn: “Anh đừng đưa chuyện của tui và M. lên báo nghen. Tụi tui chịu đựng cay cực để sống qua ngày thôi. Đừng mỉa mai tụi tui làm gì!”.
Đúng, tôi không bao giờ dùng thái độ miệt thị để viết về những người bất hạnh hơn mình. Tôi chỉ mong bài báo nhỏ này có thể giúp người đọc hiểu hơn về những mảnh đời ngậm ngùi. Hùng ơi, có lẽ Hùng ngượng ngùng không bộc bạch, nhưng tôi nhận ra hình như Hùng đã có tình cảm với M. Có thể sau một đêm mệt nhoài trở về phòng trọ, Hùng chìm vào giấc mơ với hình ảnh M. mặc váy cưới trong một ngày hạnh phúc. Và chính tôi cũng không dám đoán định, giấc mơ giản dị mà lộng lẫy ấy, có quá xa vời tầm tay của Hùng không?

Làm cave “sung sướng” lắm sao hả mẹ?!

Con biết tất cả những gì mẹ làm là vì con nhưng…con xin lỗi, con vẫn không thể tha thứ cho mẹ!

cave

Mẹ tôi là một người phụ nữ xinh đẹp, dịu dàng và đằm thắm với vẻ đẹp tươi mát và rất cuốn hút. Mẹ tôi có nước da trăng mịn, không một vết tích trên cơ thể, đôi mắt đen láy và giọng nói ngọt ngào. Đó là tất cả những lý do khiến mẹ tôi làm ngất ngây biết bao chàng trai thời còn con gái.

Gia đình ông bà ngoại tôi không khá giả gì thậm chí có thể nói là thiếu thốn. Mẹ tôi là con đầu nên không được học hành đến nơi đến chốn, chỉ học hết lớp 9 là nghỉ. Dưới mẹ còn có 3 em nhỏ. 15 tuổi, mẹ bắt đầu lao vào đời kiếm sống, một phần để tự lập, một phần để nuôi em ăn học.

Nhà ông bà tôi nằm ở vùng quê nghèo, không biết làm gì ngoài trông chờ vào mấy sào ruộng. Mẹ tôi không chịu được cảnh đồng áng, quyết định ra đi để tìm cơ hội đổi đời.

Lúc đầu mẹ làm rửa bát cho một hàng ăn nhưng rồi công việc quá mệt nhọc khiến mẹ phải bỏ mặc, rồi một ngày mẹ tìm được một công việc mới, nhẹ nhàng và thu nhập khá hơn…

Các bạn có biết việc gì không? Mẹ tôi làm cho một tiệm mát xa. Mãi sau này mẹ mới biết đó là một ổ chứa của những ông trùm có máu mặt của đất Thái Nguyên. Vì hơi xa nhà trọ nên mẹ chuyển đến quán, cùng mấy chị em làm thuê ở đó, vừa không mất tiền trọ vừa không phải đi lại nhiều.

Là người không hiểu biết nên không lường trước được những cạm bẫy sẽ đến với người mẹ xinh đẹp của tôi. Thế rồi cái gì đến rồi cũng đến. Người ta có câu ‘gần mực thì đen….’, huống gì mẹ tôi xinh đẹp là thế. Có lẽ nó như một quy luật đã được lập trình sẵn cho tất cả những cô gái bước vào nghề này: nhan sắc + ngoan hiền + biết chiều lòng khách = kiếm được nhiều tiền = đánh mất mình.

Mẹ kiếm được một khoản tiền kha khá, gửi về nhà liên tục nên ông bà ở nhà đều rất mừng. Mẹ chỉ nói mẹ làm may cho một tiệm quần áo ở đây, được bà chủ dạy nghề và chỉ bảo tận tình nên công việc cũng tốt nhưng vì bận quá nên ít khi mẹ về quê, cũng là để tránh những rèm pha của mọi người ở quê.

Mẹ tôi đã ân hận vô cùng khi đưa mình đến chốn này nhưng nghĩ đến gia đình, lại cam lòng. 20 tuổi, mẹ chưa hề biết đến 2 chữ Tình Yêu là gì. Mẹ tôi căm thù tất cả lũ đàn ông ở đây, chỉ trừ một người duy nhất, đó là vị khách rất lạ. Một người đàn ông ít nói, ít cười, chỉ nhìn mẹ tôi đắm đuối, không đòi hỏi cũng không mua chuộc. Cứ mỗi tuần ông ta lại đến vào thứ 4 và thứ 6, gọi nhân viên khác mát xa và… lại chỉ nhìn ngắm mẹ tôi.

3 tháng trôi đi, ông ta nói muốn chuộc mẹ tôi ra khỏi đây. Vì ông ta trả một khoản tiền quá lớn và cũng là người có “máu mặt” nên chủ tiệm quyết định trả tự do cho mẹ tôi.

Rồi mẹ theo ông về nhà với niềm hy vọng sẽ được làm lại cuộc đời. Mẹ tự dằn lòng mình sẽ chăm sóc ông ấy thật tốt để trả ơn. Ông ấy có 2 căn hộ, đã có vợ và con gái. Mẹ tôi từ nay là bồ nhí của ông ấy. Mẹ cũng biết thế nhưng vẫn cố gắng ‘chăm sóc’ ông ta thật tốt. 2 năm trôi đi, mẹ đã gầy đi nhiều vì phải chiều một người đàn ông to khỏe như ông.

Rồi không hiểu thế nào, mẹ tôi có thai và quyết không bỏ cái thai đó. Có lẽ mẹ đã yêu ông, hay thế nào mẹ cũng không biết nữa, chỉ biết muốn giữ lại đứa con đó (là chính tôi bây giờ).

Ông ta không đồng ý cho mẹ tôi sinh tôi ra vì bảo rằng mẹ sinh con sẽ xấu xí và không ‘chăm sóc’ ông ấy được nữa nhưng mẹ vẫn quyết tâm sinh tôi ra. Mẹ đã cầu xin ông ấy nhưng không được, bị đánh đập tàn bạo, may mà vẫn giữ được tôi.

Rồi mẹ bỏ đi, mẹ về quê, cầu xin bố mẹ tôi tha thứ. Nghe mẹ kể lại cuộc sống của mình lâu nay, ông bà tôi đau khổ vô cùng nhưng không trách móc mẹ tôi mà còn chăm sóc mẹ để tôi được ra đời.

Thế rồi tôi cũng được sinh ra trong niềm vui của mẹ và sự khinh miệt của xóm làng. Bất chấp hết, mẹ vẫn mỉm cười tươi khi sinh tôi ra. Tôi cứng cáp, được 3 tuổi, mẹ tôi lại đưa tôi lên Hà Nội kiếm sống.

May mắn thay, có một người phụ nữ vì thương cảm với hoàn cảnh mẹ con tôi nên đã cưu mang, cho tôi ăn học. Đến năm tôi 18 tuổi, người bà cô đó qua đời, để lại cho mẹ con tôi toàn bộ tài sản là 1 căn hộ rộng rãi và một cửa hàng tạp hóa nhỏ. Mẹ con tôi sống vui vẻ và rất thoải mái về vật chất.

Mẹ đã dấu tôi tất cả, cho tới hôm nay, tôi đã bị sốc khi nhận ra tất cả vì tôi đọc trộm nhật kí của mẹ.
Tôi là một sinh viên, được ăn học tử tế và cũng thuộc loại ngoan hiền nên không bao giờ tôi có thể chịu đựng được điều đau lòng này. Đúng là ‘cái kim trong bọc lâu ngày cũng lộ ra’.

Tôi đã khóc, mẹ tôi cũng khóc, kể lại tất cả câu chuyện ở trên, mẹ cầu xin tôi tha thứ nhưng tôi nói thật, tôi cảm thấy ghê tởm và khinh miệt, tôi không thể chịu được.

Tôi phải làm sao đây, bây giờ tôi chỉ có một cảm giác ‘căm ghét’ và ‘căm ghét’. Tôi có sai không? Xin cho tôi lời khuyên lúc này, tôi bối rối quá! (blueeyes_89…@yahoo.com).

Thứ Ba, 13 tháng 10, 2009

Học MBA để làm gì?

“Tôi xách túi đồ nhãn hiệu Gucci ra khỏi Tràng Tiền Plaza rồi đứng lại ở cửa chờ bạn. Một tay ăn mày chuyên nghiệp phát hiện ra tôi, sán tới đứng trước mặt. Câu chuyện của tôi chỉ có thế thôi. Thế nhưng tay ăn mày đã dạy tôi một bài học kinh tế còn sâu sắc hơn một khoá học MBA ở trường.

mba

Tôi kể câu chuyện này chính bởi ý nguyện của tay ăn mày đó.

- Xin anh… cho tôi ít tiền đi! – Tôi đứng đó chả có việc gì nên tiện tay vứt cho hắn đồng tiền xu, rồi bắt chuyện cùng nhau.
Ăn mày rất thích kể lể.
- Tôi chỉ ăn mày quanh khu mua sắm này thôi, anh biết không? Tôi chỉ liếc một phát là thấy anh ngay. Đi mua Gucci ở Plaza chắc chắn nhiều tiền…
- Hả? Ông cũng hiểu đời phết nhỉ! – Tôi ngạc nhiên.
- Làm ăn mày, cũng phải ăn mày cho nó có khoa học. – Ông ta bắt đầu mở máy.
Tôi ngẫm nghĩ một lát, thấy thú vị bèn hỏi:
- Thế nào là ăn mày một cách khoa học?
Tôi nhìn kỹ ông ta, đầu tóc rối bù, quần áo rách nát, tay gầy giơ xương, nhưng lại sạch sẽ.
Ông ta giảng giải:
- Ai chẳng sợ và ghét ăn mày, nhưng tôi tin anh không ghét tôi, tôi đoan chắc điều đó. Đấy là điểm tôi khác biệt với những thằng ăn mày khác.
Tôi gật đầu đồng ý, đúng là tôi không ghét ông ta, nên tôi đang nói chuyện với ông ta đấy thôi.
- Tôi biết phân tích SWOT, những ưu thế, bất lợi, những cơ hội và nguy cơ. Đối mặt với những thằng ăn mày là đối thủ cạnh tranh của tôi, ưu thế (Strengths) của tôi là tôi không làm người ta phản cảm, lánh sợ. Cơ hội (Opportunities) và nguy cơ (Threats) thì chỉ là những yếu tố điều kiện bên ngoài thuộc về hoàn cảnh, có thể là dân số ở đây đông hay vắng, thành phố có quyết định chỉnh trang đô thị, dẹp hè phố chăng…
- …???
- Tôi đã từng tính toán rất cụ tỉ (cụ thể và tỉ mỉ) rằng, khu vực thương mại này người qua lại đông, mỗi ngày khoảng mười nghìn người, nghèo thì nhiều lắm, nhưng người giàu còn nhiều hơn. Trên phương diện lý luận thì giả như mỗi ngày tôi xin được mỗi người một đồng xu một nghìn đồng, thì mỗi tháng thu nhập của tôi đã được ba trăm triệu đồng. Nhưng thực tế thì đâu phải ai cũng cho ăn mày tiền, mà một ngày làm sao tôi đi xin được mười nghìn lượt người. Vì thế, tôi phải phân tích, ai là khách hàng mục tiêu của tôi, đâu là khách hàng tiềm năng của tôi.
Ông ta lấy giọng nói tiếp:

- Ở khu Tràng Tiền Plaza này thì khách hàng mục tiêu của tôi chiếm khoảng 30% số lượng người mua sắm, tỉ lệ thành công khoảng 70%. Lượng khách hàng tiềm năng chiếm khoảng 20%, tỉ lệ thành công trên đối tượng này khoảng 50%. Còn lại 50% số người, tôi chọn cách là bỏ qua họ, bởi tôi không có đủ thời gian đểtìm vận may của mình với họ, tức là xin tiền họ.
- Thế ông định nghĩa thế nào về khách hàng của ông? – Tôi căn vặn.
- Trước tiên, khách hàng mục tiêu nhé. Thì những nam thanh niên trẻ như anh đấy, có thu nhập, nên tiêu tiền không lưỡng lự. Ngoài ra các đôi tình nhân cũng nằm trong đối tượng khách hàng mục tiêu của tôi, họ không thể mất mặt trước bạn khác phái, vì thế đành phải ra tay hào phóng. Rồi tôi chọn các cô gái xinh đẹp đi một mình là khách hàng tiềm năng, bởi họ rất sợ bị lẽo đẽo theo, chắc chắn họ chọn cách bỏ tiền ra cho rảnh nợ. Hai đối tượng này đều thuộc tầm tuổi 20-30. Nếu tuổi khách hàng nhỏ quá, họ không có thu nhập, mà tuổi già hơn, thì họ có thể đã có gia đình, tiền bạc bị vợ cầm hết rồi. Những ông chồng đó biết đâu có khi đang âm thầm tiếc hận rằng không thể ngửa tay ra xin tiền của tôi ấy chứ!
- Thế thì mỗi ngày ông xin được bao nhiêu tiền?
- Thứ hai đến thứ sáu, sẽ kém một chút, khoảng hai trăm nghìn. Cuối tuần thậm chí có thể 4-500 nghìn.
- Hả? Nhiều vậy sao?
Thấy tôi nghi ngờ, ông ta tính cho tôi thấy:
- Tôi cũng khác gì anh, tôi cũng làm việc tám giờ vàng ngọc. Buổi sáng từ 11h đến tối 7h, cuối tuần vẫn đi làm như thường. Mỗi lần ăn mày một người tôi mất khoảng 5 giây, trừ đi thời gian tôi đi lại, di chuyển giữa các mục tiêu, thường một phút tôi xin được một lần được một đồng xu 1 nghìn, 8 tiếng tôi xin được 480 đồng một nghìn, rồi tính với tỉ lệ thành công 60% [(70%+50%)÷2] thì tôi được khoảng 300 nghìn.
Chiến lược ăn mày của tôi là dứt khoát không đeo bám khách chạy dọc phố. Nếu xin mà họ không cho, tôi dứt khoát không bám theo họ. Bởi nếu họ cho tiền thì đã cho ngay rồi, nếu họ cho vì bị đeo bám lâu, thì tỉ lệ thành công cũng nhỏ. Tôi không thể mang thời gian ăn mày có giới hạn của tôi để đi lãng phí trên những người khách này, trong khi tôi có thể xoay ngay sang mục tiêu bên cạnh.
Trời, tay ăn mày này có đầu óc quá đi, phân tích như thể giám đốc kinh doanh hoặc giám đốc tiếp thị vậy.
- Ông nói tiếp đi! – Tôi hào hứng.
- Có người bảo ăn mày có số may hay xui, tôi không nghĩ thế. Lấy ví dụ cho anh nhé, nếu có một thanh niên đẹp trai và một phụ nữ xinh đẹp đứng trước cửa shop đồ lót mỹ phẩm, thì anh sẽ chọn ai để ăn mày?
Tôi ngẫm nghĩ rồi bảo, tôi không biết.
- Anh nên đi đến xin tiền anh thanh niên kia. Vì đứng bên anh ta là một phụ nữ đẹp, anh ta chẳng lẽ lại không cho ăn mày tiền. Nhưng nếu anh đi xin cô gái đẹp, cô ta sẽ giả vờ là ghê sợ anh rồi lánh xa anh.
Thôi cho anh một ví dụ nữa: Hôm nọ đứng ở cửa siêu thị BigC có một cô gái trẻ tay cầm túi đồ vừa mua từ siêu thị, một đôi nam nữ yêu nhau đang đứng ăn kem, và một anh chàng đóng bộ công chức chỉnh tề, tay xách túi đựng máy tính xách tay. Tôi chỉ nhìn họ ba giây, sẽ không ngần ngừ bước thẳng tới mặt cô gái trẻ xin tiền, cô gái cho tôi hẳn hai đồng xu, nhưng ngạc nhiên hỏi tôi tại sao chỉ xin tiền có mỗi cô ta. Tôi trả lời rằng, cái đôi tình nhân kia đang ăn, họ không tiện rút ví ra cho tiền, anh kia trông có vẻ lắm tiền, trông như sếp nhưng vì thế trên người họ thường không có sẵn tiền lẻ. Còn cô vừa mua sắm ở siêu thị ra, cô tất còn ít tiền thừa, tiền lẻ.
Chí lý, tôi càng nghe tay ăn mày nói càng tỉnh cả người ra.

- Cho nên tôi bảo rồi, tri thức quyết định tất cả!
Tôi nghe sếp tôi nói bao lần câu này, nhưng đây là lần đầu tôi nghe một thằng ăn mày nói câu này.
- Ăn mày cũng phải mang tri thức ra mà ăn mày. Chứ ngày ngày nằm ệch ra ở xó chợ, cầu thang lên đường vượt giao lộ, xin ai cho được tiền? Những người đi qua giao lộ, chạy qua cổng chợ đều vội vàng hoặc cồng kềnh, ai ra đấy mà chơi bao giờ, ra đấy xin chỉ mệt người. Phải trang bị tri thức cho chính mình, học kiến thức mới làm người ta thông minh lên, những người thông minh sẽ không bao giờ ngừng học hỏi kiến thức mới. Thế kỷ 21 rồi, bây giờ người ta cần gì, có phải là cần nhân tài không?
Có lần, có một người cho tôi hẳn 50 nghìn, nhờ tôi đứng dưới cửa sổ gào: “Hồng ơi, anh yêu em”, gào 100 lần. Tôi tính ra gọi một tiếng mất 5 giây, thời gian cũng tương tự như tôi đi ăn mày một lần, nhưng lợi nhuận đạt được chỉ 500 đồng, còn kém đi ăn mày, thế là tôi từ chối.
Ở đây, nói chung một tay ăn mày một tháng có thể đi xin được một nghìn hoặc tám trăm lần. Người nào may mắn thì cùng lắm đi xin được khoảng hai nghìn lần. Dân số ở đây khoảng ba triệu, ăn mày độ chục anh, tức là tôi cứ khoảng mười nghìn người dân mới ăn mày một người. Như thế thu nhập của tôi ổn định, về cơ bản là cho dù kinh tế thế giới đi lên hay đi xuống, tình hình xin tiền của tôi vẫn ổn định, không biến động nhiều.
Trời, tôi phục tay ăn mày này quá!
- Tôi thường nói tôi là một thằng ăn mày vui vẻ. Những thằng ăn mày khác thường vui vì xin được nhiều tiền. Tôi thường bảo chúng nó là, chúng mày nhầm rồi. Vì vui vẻ thì mới xin được nhiều tiền chứ.
Quá chuẩn!
- Ăn mày là nghề nghiệp của tôi, phải hiểu được niềm vui do công việc của mình mang lại.( Chỗ này sao giống Thầy Thiêm nói quá!!!) Lúc trời mưa ít người ra phố, những thằng ăn mày khác đều ủ rũ oán trách hoặc ngủ. Đừng nên như thế, hãy tranh thủ mà cảm nhận vẻ đẹp của thành phố. Tối về tôi dắt vợ và con đi chơi ngắm trời đêm, nhà ba người nói cười vui vẻ, có lúc đi đường gặp đồng nghiệp, tôi có khi cũng vứt cho họ một đồng xu, để thấy họ vui vẻ đi, nhìn họ như nhìn thấy chính mình.
- Ối ông cũng có vợ con?
- Vợ tôi ở nhà làm bà nội trợ, con tôi đi học. Tôi vay tiền ngân hàng Vietinbank mua một căn nhà nhỏ ở ngoại thành, trả nợ dần trong mười năm, vẫn còn sáu năm nữa mới trả hết. Tôi phải nỗ lực kiếm tiền, con tôi còn phải học lên đại học, tôi sẽ cho nó học Quản trị kinh doanh, Marketing, để con tôi có thể trở thành một thằng ăn mày xuất sắc hơn bố nó.
Tôi buột miệng:
- Ông ơi, ông có thu nhận tôi làm đệ tử không?

Thứ Sáu, 9 tháng 10, 2009

Làm tình với gái trước mặt vợ để trả thù

Bất cứ người phụ nữ nào bước vào hôn nhân cũng khát khao có một gia đình bình yên và hạnh phúc. Nhưng không phải ai cũng đi đến được giấc mơ bình dị ấy. Có những người phụ nữ đã trở thành “tù nhân” trong chính hôn nhân của mình bởi nạn bạo hành trong gia đình của họ. Chúng ta hãy nghe tiếng kêu đau đớn của họ và hãy tìm cách cứu trợ ra khỏi tấm thảm kịch ấy

Girl Xinh vai Leu

Nếu không có anh Thức, chị Hội ở Công an huyện thì có lẽ tôi đã chết trong chính ngôi nhà của mình. Tôi sẽ chết trong đau đớn và nhục nhã bởi người mà tôi đã yêu, đã đi đến hôn nhân và có hai đứa con kháu khỉnh với anh ấy. Đêm nào tôi cũng thức giấc và cứ tự hỏi: vì sao anh ấy lại đối xử ác độc với tôi như thế? Lẽ nào chỉ một lần không kiên quyết của tôi mà tôi phải trả một cái giá đắt đến nhường đó?

Tôi và anh V yêu nhau và tự nguyện đi đến hôn nhân. Suốt bảy năm về làm dâu, tôi đã sống với tình yêu thương thực sự với V và gia đình anh ta. Tôi không nề hà bất cứ việc gì của gia đình chồng. Tôi không dám nói rằng mình là người con dấu hiếu thảo với bố mẹ chồng. Nhưng tôi không có gì phải ân hận trong những năm tháng làm con nhà người.

Khi tôi về làm dâu nhà V được hai năm thì bố chồng tôi bị tai biến nằm liệt trên giường. Tôi đãc hăm sóc bố chồng như chính con gái của ông cụ. Bố chồng tôi có hai cô con gái nhưng một người lấy chồng xa và một người lúc nào cũng bận bịu với công việc chẳng mấy khi đến thăm bố được. Hầu như tất cả công việc phụ vụ ông cụ đều đặt vào tôi. Ngày này hết ngày khác, cứ xong công việc ở xưởng là tôi vội vã về nhà. Trong suốt bảy năm làm vợ, tôi chẳng mấy khi có thời gian rảnh rỗi cho riêng mình. Nhưng tôi thấy hạnh phúc khi được hy sinh cho chồng con và gia đình nhà chồng. Hạnh phúc với tôi như thế thật đơn sơ phải không? Với một người phụ nữ như tôi thì như vậy là quá đủ. Nhưng ngay cả hạnh phúc đơn sơ như thế mà tôi cũng không thể giữ được.

Chỉ một lần chồng tôi nhìn thấy anh P làm cùng xưởng với tôi cầm tay tôi ở một quán giải khát, chồng tôi xông vào đánh anh p và chửi bới tôi. Anh ấy bảo tôi là một con điểm giả danh đạo đức. Chiều hôm đó trở về nhà, tôi đã xin lỗi chồng tôi và kể sự tình với anh ấy. Anh P là một người đàn ông còn độc thân. Anh P rất quý mến tôi. Thật ra thì anh ấy yêu tôi. Tôi biết điều đó nhưng tôi không bao giờ cho phép mình làm bất cứ điều gì làm tổn thương đến tình cảm của tôi đối với chồng mình cho dù chồng tôi không biết.

Tôi đã nhiều lần nói với anh P không nên tiếp tục có những hành động khác thường đối với tôi nữa. Nhất là từ khi trong xưởng làm đã có người bàn tán về chúng tôi. Rồi đến một ngày, anh P chuyển công tác vào một thành phố phía Nam. Anh P mời tôi đi uống nước để chia tay. Tôi không nỡ chối từ lời mời của anh. Hơn nữa, trong quan hệ của tôi với anh P chẳng có bất cứ điều gì mờ ám.

Chúng tôi ngồi uống nước và tâm sự nhiều điều. Bất chợt, anh P cầm lấy bàn tay tôi và nói anh rất yêu tôi. Lý do anh P quyết định ra đi vì anh không thể ở cạnh tôi mà không bao giờ có được tôi. Anh P nói anh ấy ra đi để có lý do quên dần tôi. Nếu không anh ấy sẽ khổ sở suốt đời và cũng gây phiền hà cho tôi. Với những lời nói mà tôi biết rất chân thành và đau khổ của anh, tôi không dám giật bàn tay mình ra khỏi tay anh. Tôi thấy thương anh P, nước mắt tôi trào ra. Tôi thực sự quý mến và tôn trọng tình cảm của anh P nhưng tôi biết đâu rằng chính khoảnh khắc ngắn ngủi đó đã chấm dứt hạnh phúc của đời tôi.

Chồng tôi đã theo dõi tôi. Chắc đã có ai đó làm cùng xưởng nói những điều không đúng sự thật về quan hệ của tôi và anh P cho chồng tôi. Khi tay tôi đang ở trong tay anh P và đôi mắt tôi giàn giụa nước thì chồng tôi xuất hiện. Tất cả chỉ có thế. Hôm đó, tôi đã thức suốt đêm để nói tất cả sự thật với chồng tôi. Nhưng càng nói hình như tôi càng đổ thêm dầu vào lửa. Chồng tôi chửi bới tôi suốt đêm. Anh ấy đánh đập tôi. Tôi không kêu ca một lời.

Tôi luôn luôn nghĩ mình cũng có lỗi trong chuyện đó. Để chứng minh sự trong sáng và tình yêu của tôi đối với chồng, tôi chăm chỉ và hy sinh nhiều hơn trước đó cho chồng con tôi và gia đình nhà chồng. Nhưng bi kịch của tôi không hề được thay đổi. Cứ nhìn thấy tôi là anh ấy chửi bới, nguyền rủa.

Rồi một đêm, ác mộng đã đến với cuộc đời tôi. Chồng tôi đưa về một cô gái rất trẻ và nói đó là một người quen. Đêm ấy, chồng tôi trải một tấm đệm trong phòng chúng tôi và nói để cho cô gái ấy ngủ ở đó. Tôi đã phản đối dữ dội. Chồng tôi bảo tôi có thể đi với bạn trai của tôi thì anh ấy cũng có thể đưa bạn gái về nhà. Tôi không thể nào chịu đựng nổi được cảnh đó. Tôi bỏ sang phòng các con tôi nhưng chồng tôi đã khóa cửa không cho tôi đi. Chồng tôi bật hết đèn phòng và ấu yếm với cô gái kia trước mặt tôi. Đầu óc tôi u mê đi trong đau đớn và kinh hãi. Tôi chỉ biết ôm chặt đầu và gục vào góc phòng. Sau khi hoan lạc với cô gái kia chồng tôi hỏi tôi có đau đớn không, có thấy nhục khi chồng mình chung chạ với cô gái khác không. Anh ấy gằn giọng nói: “Mày đau đớn và thấy nhục nhã như thế nào thì tao cũng đau đớn và nhục nhã khi thấy mày với thằng người yêu của mày”.

Sau đêm ác mộng đó, tôi như người đã chết. Tôi đã quỳ xuống xin chồng tôi tha thứ cho tôi. Cho dù cái lỗi tôi đã phạm phải không đến mức tôi phải bị trừng phạt đến như thế. Nhưng anh ta không hề nghe thấy lời cầu xin đau đớn tột cùng của tôi. Cơn ác mộng không dừng lại và nó cứ tiếp diễn. Tôi không bao giờ có thể tưởng tượng nổi trên đời này người ta có thể trả thù vợ như thế. Tôi không thể tưởng tượng nổi đời một người phụ nữ lại bị hành hạ như thế cho dù họ mắc lỗi như thế nào. Đã có lúc tôi nghĩ đến cái chết. Nhưng nghĩ đến hai đứa con và tự thấy rằng tôi chưa hề phản bộ chồng mình, tôi lại sống. Nhưng ngày này qua ngày khác, tôi sống trong cơn ác mộng kinh hoàng. Cứ mỗi tối có tiếng xe máy của chồng tôi vào ngõ, tôi lại run bắn người lên vì sợ hãi.

Những đêm sau này, tôi đã ở trong phòng hai đứa con tôi. Chồng tôi không thể nhốt tôi vào trong căn phòng ác mộng và kinh hãi ấy nữa. Nhưng tôi không thể nào ngủ được. Thi thoảng tôi vẫn nghe tiếng kêu rên như ma quỷ của cô gái lạ kia vọng đến. Sau này tôi biết đó là một cô gái làm tiền ở phố huyện. Khi biết mình không thể thay đổi được những gì đang diễn ra, tôi đã làm đơn xin ly hôn. Chồng tôi xé tan lá đơn, đánh chửi tôi và đe dọa tôi. Anh ấy bảo tôi phải sống trong sự hành hạ như thế 10 năm mới được xét tha thứ. Nếu tôi tự ý bỏ anh ấy thì anh ấy sẽ không bao giờ cho tôi nhìn thấy các con tôi.

Sau gần hai năm sống trong ác mộng, tôi quyết định gửi đơn ly hôn. Nhưng chồng tôi đã tìm mọi cách ngăn cản. Anh ấy nói tôi không thể dễ dàng trốn thoát được như thế. Anh ấy bảo sẽ hành hạ tôi cho đến hết đời. Anh ấy còn mách cô gái kia cách thân thiện với hai con tôi. Anh ấy tìm mọi cách để trả thù tôi. Sự hận thù của anh ấy không còn gì có thể hơn. Nhưng sự thật, tôi đâu có phản bội anh ấy. Các con tôi còn trẻ quá nên chẳng biết gì. Khi thấy cô gái kia đến là chúng ồm chầm lấy và líu ríu trò chuyện. Nhìn thấy cảnh ấy, cõi lòng tôi tan nát. Nhiều lúc tôi nghĩ mình sẽ hóa điên. Những lúc như thế tôi khóc thảm thiết. Nếu tôi bị điên thì các con tôi sẽ như thế thế nào khi sống với một người bố giá lạnh và độc ác như thế. Vì thế tôi lại cố sống. Tôi phải sống cho các con tôi dù như thế nào.

Khi tôi nhờ chính quyền địa phương can thiệp cho tôi được ly hôn thì những người có trách nhiệm ở thôn, xã cứ tìm cách lảng tránh. Tôi biết chồng tôi đã làm cho những người có trách nhiệm ở địa phương hiểu sai vấn đề. Còn tôi, tôi không thể nói ra sự thật với chính quyền địa phương là đêm đêm chồng tôi đưa một cô gái điếm về và hành lạc trong chính ngôi nhà của vợ chồng tôi. Cuối cùng tôi tìm đến các anh Công an huyện để kêu cứu. Tôi đã kể hết mọi chuyện với anh Thức và chị Hội. Tôi đã nhìn thấy những giọt nước mắt của chị Hội ứa ra. Họ đã gặp chồng tôi, cảnh cáo hành động của anh ấy và tuyên bố nếu anh ấy tiếp tục hành hạ tôi thì sẽ đưa anh ấy ra trước pháp luật.

Sau mấy năm cố gắng hàn gắn lại gia đình không thành công, tôi đã được giải thoát khỏi những cơn ác mộng. Sau này tôi biết, có những người phụ nữ trở thành nạn nhân của nạn bạo hành trong gia đình. Đặc biệt là những người phụ nữ ở nống thôn. Những người phụ nữ Việt Nam như tôid dều không muốn gia đình tan vỡ. Chính vì thế mà họ đã âm thầm chịu đựng bao hành hạ đau đớn và cay đắng trong chính ngôi nhà của mình. Nhưng sự chịu đựng nào cũng có giới hạn. Với lý do tình cảm riêng trong quá khứ, tôi không muốn luật pháp trừng phạt người chồng cũ của tôi vì ít nhất tôi đã có hai mặt con với anh ấy. Nhưng những người phụ nữ như tôi muốn luật pháp phải trừng trị nghiêm minh những người chồng đã biến vợ mình thành tù nhân trong ngôi nhà của họ.

(Một người phụ nữ ở Bắc Giang)
Theo Cảnh sát toàn cầu

Đi học và học vấn !

Một trong những sử gia giỏi nhất tôi được biết đã chưa bao giờ học hết lớp tám.

Ông ấy chưa từng được học qua bậc trung học. Nhưng chỉ cần năm phút đàm luận về lịch sử thế giới với con người ấy thôi thì bạn sẽ biết được ngay ông rất am tường về những trào lưu lịch sử lớn. Ở châu Phi. Ở châu Á. Ở châu Âu.

Ông là một trong những con người thú vị nhất mà tôi từng được gặp bởi ông ấy thật thú vị. Kiến thức uyên thâm của ông không chỉ đơn thuần là một sự thuộc lòng những ngày tháng đã được ghi chép. Ông biết các sự kiện lịch sử, và ông cũng biết rõ bối cảnh của chúng nữa.

Ông đã làm thế nào để trở thành một cái kho kiến thức lớn đến như vậy? Tôi đã hỏi cậu con trai của ông. Câu trả lời là: Bởi ông đã dành cả đời mình để đọc sách. Bất kỳ quyển sách nào ông có thể tìm được – từ kinh Cựu Ước đến Toynbee. Người đàn ông ấy biết lịch sử bởi vì ông yêu thích nó.

Trong quãng thời gian làm phóng viên, tôi đã được gặp rất nhiều người có học vấn thật sự tuy không được gọi là sự học hành chính quy – những con người đã tự học.

Có nào là Eric Hoffer, một phu khuân vác ở bờ biển trở thành một triết gia. Trí tuệ xuất chúng của Hoffer đã được đào luyện trên những bến cảng, nơi ông làm nghề bốc dỡ hàng, và trong các thư viện, nơi ông dùng thời giờ rảnh rỗi để bồi nạp trí não của mình bằng những chủ đề mà ông yêu thích.

Khi Bob Bray còn là một đứa trẻ, gia đình của ông đã phải vất vả để sinh tồn trong một lầu có ba phòng ngủ. Họ quá nghèo đến đỗi nhà họ chẳng có đường ống nước, ống gaz hay cống rãnh gì cả. Bray nhớ lại cảnh ông đã ghét cái sự khó chịu nóng nực của nhà tắm, cái cảnh phải đi toilet ngoài trời vào mùa đông ra sao.

Nhưng, bất chấp tất cả những điều như vậy, ông vẫn nuôi dưỡng những giấc mơ của mình. Chúng đúng là những giấc mơ quá lớn lao đến độ không tin nỗi đối với những ai có hoàn cảnh sống quá sức khiêm tốn đến như vậy:

Giấc mơ được ăn trưa cùng với Bertrand Russell và Edith Sitwell.

Giấc mơ được đội cái mũ giống như thần tượng Frank Lloyd Wright của mình.

Làm thế nào một cậu bé nghèo khổ lại biết về những nhân vật lừng danh đó? Đâu là nguồn gốc của những giấc mơ như vậy?

Tuy thiếu tiền bạc và thiếu học hành thật, nhưng mẹ và anh của Bray đều là những người rất ham mê đọc sách. “Nhà chúng tôi chỗ nào cũng có sách, góc nhà, mặt bàn, mặt ghế, bên dưới bất kỳ vật gì có chân”, Bray nhớ lại.

Ngay từ rất lâu trước khi được học hành chính quy về thiết kế nội thất, từ rất lâu trước khi trở thành một trong những nhà thiết kế lừng danh nhất thế giới, Bob Bray đã tự tay tạo lấy học vấn cho mình.

Không phải ai cũng có thể bước chân vào đại học được.

Nhưng bất kỳ ai cũng có thể tự tạo học vấn cho mình.

Trích từ ”100 thông điệp giúp bạn sống lạc quan và có ý nghĩa” – Mort Crim

Ái ân với mẹ kế

Tôi ôm chầm lấy cô ấy, hôn lên tất cả các điểm nhạy cảm trên cơ thể cô… và chúng tôi đã quấn chặt vào nhau, ái ân, ân ái suốt cả buổi sáng hôm ấy.

Ái ân với mẹ kế
Tôi không thể kiềm lòng mình trước “mẹ kế” được nữa…

Khi tôi còn là cậu sinh viên năm thứ ba trường Đại học Kinh tế thì có một tin buồn bất ngờ ập đến với gia đình tôi! Mẹ tôi bị bệnh ung thư vú và bà đã đau đớn ra đi sau năm tháng phát hiện ra căn bệnh quái ác đó.

Bố tôi đã suy sụp rất nhiều. Còn anh em tôi kể từ ngày ấy cũng sống khép kín và lặng lẽ hơn. Sau hơn hai năm, bố tôi cưới cô thư kí xinh đẹp của mình về làm vợ. Mặc dù bị chúng tôi phản đối rất nhiều nhưng ông vẫn quyết định cưới cô ấy.

Bố là tổng giám đốc của một công ty truyền thông lớn. Công việc của ông cứ nay đây, mai đó… Rồi dăm bữa, nửa tháng lại bay ra nước ngoài để gặp gỡ đối tác. Những lúc như thế, bố thường không đưa mẹ kế đi cùng mà để cô ấy ở nhà tiện cơm nước và chăm sóc chúng tôi.

Cô em gái của tôi tham gia câu lạc bộ người mẫu nên nó thường xuyên vắng nhà vì những buổi tập luyện và biểu diễn. Những lúc như thế, chỉ có tôi và mẹ kế ở nhà. Mặc dù tôi vẫn gọi cô ấy bằng dì, nhưng thật tâm, tôi chỉ xem cô ấy như một người bạn, người chị bởi vì cô ấy rất tâm lý và biết cách chia sẻ với người khác. Đôi khi, có những khúc mắc về tình yêu và giới tính, tôi luôn tìm cô ấy để chia sẻ và học hỏi kinh nghiệm. Cô cũng luôn lắng nghe và tâm sự cho tôi rất nhiều về quá khứ của mình, về nỗi đau mất mát khi phải chứng kiến cảnh người đàn ông cô yêu thương nhất đã ra đi trong một tai nạn khủng khiếp cách đây năm năm…

Ái ân với mẹ kế, Kẻ thứ 3, Bạn trẻ - Cuộc sống,

Cô ấy đã chấp nhận làm mẹ kế của bố để chăm sóc 2 anh em chúng tôi!

Tôi rất cảm thông và luôn muốn san sẻ cùng cô ấy những mất mát đau thương mà cô ấy đã phải chịu đựng. Cô bảo rằng khi quyết định về sống với gia đình tôi cũng chỉ vì cô thương bố phải một mình gà trống nuôi con, cảm thông cho những nỗi đau và mất mát mà gia đình tôi đã phải chịu đựng trong suốt hơn hai năm qua…

Cũng chính những cuộc chuyện trò như vậy khiến tôi hiểu và quý cô ấy hơn… Và cũng chẳng hiểu sao, trong những giấc mơ, những suy nghĩ của tôi luôn hiện lên đôi mắt u sầu và nụ cười buồn bã của cô ấy… Tôi không còn cảm giác ghen ghét cô như ngày đầu mới bước chân vào ngôi nhà này nữa… Giờ đây, tôi thấy thương cô hơn bao giờ hết…!

Cho đến một ngày, khi tôi đi dự sinh nhật một người bạn thân từ hồi cấp III. Hôm ấy vì quá vui nên tôi và đám bạn đã uống rất nhiều rượu… Khi về đến nhà, dường như tôi không ý thức được những hành động của mình nữa… Tôi chỉ nhớ mang máng rằng cô ấy đã ngồi đợi tôi và dìu tôi vào phòng ngủ của mình…

Ái ân với mẹ kế, Kẻ thứ 3, Bạn trẻ - Cuộc sống,

Chúng tôi đã tận hưởng niềm hạnh phúc trong sự hoan lạc, thăng hoa.

Sáng sớm. Khi tỉnh dậy, tôi không thể tin vào mắt mình khi thấy cô ấy nằm bên cạnh mình, không một mảnh vài che thân và tôi cũng đang ở trong tư thế Adam. Ngượng ngùng. Xấu hổ và bao trùm cảm giác tội lỗi với bố tôi và cô ấy… Đang loay hoay tìm quần áo để mặc thì tôi cảm nhận được một bàn tay dịu dàng đang mơn trớn khắp cơ thể tôi… Bất chợt, tôi thấy cô ấy đang mỉm cười và nhìn tôi rất trìu mến. Chính lúc này, tôi lại không thể kiềm chế được bản năng đang trỗi dậy trong mình. Tôi ôm chầm lấy cô ấy, hôn lên tất cả các điểm nhạy cảm trên cơ thể cô… và chúng tôi đã quấn chặt vào nhau, ái ân, ân ái suốt cả buổi sáng hôm ấy.

Lần đầu tiên trong đời, tôi biết thế nào là mùi xác thịt của đàn bà. Một cảm giác lâng lâng, hạnh phúc lan toả trong từng thớ thịt của người con trai 24 tuổi. Dẫu biết rằng tôi đang mù quáng trong niềm hạnh phúc thăng hoa của sự loạn luân, dẫu biết rằng tình yêu ấy không bao giờ có thể bền vững và có một kết cục tốt đẹp… Nhưng tôi vẫn muốn yêu, muốn được yêu, được hân hoan trong sự cuồng dại mê muội ấy!

Đôi lần ngẫm lại những gì đã qua, về những luân lý đạo đức của người con trai tốt, của một gia đình gia giáo… Tôi thấy mình như một kẻ bệnh hoạn thật sự… Ngu ngốc. Điên dại… tôi dường như đã mất hết lý trí! Tôi nghĩ đến cảnh mình phải quỳ trước mặt bố để xin lỗi, rồi sẽ trốn chạy đến một nơi nào đó thật xa… sẽ quên hết quá khứ, quên hết những ái ân bên người đàn bà ấy, quên hết tất cả những ám ảnh tội lỗi với những người thân yêu trong gia đình thân yêu của mình!

Một ngày nữa lại trôi qua… Những bữa cơm gia đình dường như không còn những câu chuyện vui vẻ, ấm cúng như xưa nữa! Cả tôi và cô ấy đều đã nhận ra những sai lầm của mình và tôi biết, mình không thể buông xuôi theo những ham muốn dục vọng tầm thường của mình nữa… Tôi sẽ xin chuyển vào Nam để công tác ở một chi nhánh của công ty trong ấy… Tôi sẽ rũ bỏ tất cả để sống thật với cuộc sống của mình, với những ước mơ, hoài bão của một chàng trai đã đạt được rất nhiều thành quả đáng nề trong công việc.

Ái ân với mẹ kế, Kẻ thứ 3, Bạn trẻ - Cuộc sống,

Mong sao… thời gian sẽ vùi chôn những lầm lỗi mà hai chúng tôi đã gây ra!

Lầm lỗi sẽ chôn vùi theo năm tháng thời gian! Tình yêu và những khát khao tầm thường ấy sẽ biến mất khi ta biết hi sinh cho những người thân yêu trong gia đình mình!

Giã từ những lầm lỗi! Giã từ những ảo mộng về tình yêu và hạnh phúc! Tôi sẽ bắt đầu với một cuộc sống khác – cuộc sống của một người đàn ông thực sự có trách nhiệm! Mong sao cô ấy cũng nhận ra những sai lầm của mình để sống với niềm hạnh phúc bên người bố thân yêu của tôi! Hi vọng rằng: Nụ cười mãn nguyện sẽ luôn nở trên đôi môi của những người thân yêu trong gia đình mình!